Chào Mừng Quý Khách Đã Ghé Thăm Website Của Nhà Thuốc Đông Y MAI TRÍ TUỆ . Chúc Quý Khách có nhưng giây phút thật hữu ích !!!

Monday, July 11, 2016


Gặp thấy đầu tiên trong sách ‘Y Thuyết’ của Trương Quý Minh đời nhà Tống.

Là một bệnh truyền nhiễm thường gặp vào mùa đông xuân.

Trẻ nhỏ thường bị nhiều hơn.

Còn gọi là Thủy Sang, Thủy Hoa, Thủy Bào, Phu Chẩn, Thủy Hoa Nhi.

Nguyên Nhân

Các y gia xưa quan niệm không thống nhất về nguyên nhân gây bệnh. Đa số cho là do trẻ nhỏ có thấp nhiệt nội uất bên trong kèm ngoại cảm thời tà bệnh độc gây nên. Thời tà và thấp nhiệt tranh chấp nhau, lưu lại ở kinh Tỳ và Phế. Nhẹ thì làm cho Phế mất chức năng tuyên giáng biểu hiện bằng nốt đậu mầu đỏ, nhuận, mụn nước trong. Nặng hơn thì tà độc làm tổn thương Tỳ dương, bệnh độc vào sâu bên trong, thấy dấu hiệu bệnh ở phần khí, tà khí không thoát ra ngoài được, vì vậy nốt đậu đỏ tối, nước đục.

Chủ yếu do độc khí làm tổn thương phần vệ, phần khí, xâm nhập vào phần doanh gây nên bệnh.

Triệu Chứng

Phong Nhiêtp Hợp Thấp: Thiên về phần khí thuộc loại nhẹ. Hơi sốt, mũi nghẹt, chảy nước mũi, ho, một hai ngày sau đậu xuất hiện như hạt sương, mầu hồng nhuận, mọc ở lưng trước rồi mới lan ra tay chân (nhưng tay chân ít hơn), ngứa. Sau khi nổi lên, ở chính giữa có một bọng nước gọi là bào chẩn. Bào chẩn lớn dần không đều nhau, hình bầu dục, chứa một chất nước trong, không nung mủ, có vành đỏ chung quanh, kéo dài khoảng 2~3 ngày thì khô và bong ra, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Phù, chỉ tay mầu đỏ tím.

Điều trị: Sơ phong, thanh nhiệt, giải độc khứ thấp. Dùng bài

Ngân Kiều Tán gia giảm: Ngân hoa 10g, Liên kiều, Kinh giới, Trú diệp đều 6g, Lục đậu y 12g, Cát cánh, Thuyền thoái, Đại thanh diệp, Tử thảo, Cam thảo đều 4,5g (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).

Đại Liên Kiều Ẩm: Phòng phong, Kinh giới, Cam thảo, Đương quy đều 4g, Hoàng cầm, Xích thược, Sài hồ, Mộc thông, Chi tử đều 6g, Hoạt thạch, Liên kiều, Ngưu bàng tử đều 8g, Xa tiền 12g (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).

Thấp Nhiệt Nhiều: Thiên về phần huyết, thuộc loại nặng. Sốt cao, miệng và răng khô, môi đỏ, mặt đỏ, tinh thần mệt mỏi, niêm mạc miệng có những nốt phỏng, tiểu ít, nước tiểu đỏ, thủy đậu mọc dầy, nốt thủy đậu to, mầu nước đục, chung quanh mầu đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng khô mạch Hoạt Sác, chỉ tay mầu đỏ trệ.

Điều trị Thanh nhiệt giải độc, lương huyết thanh doanh. Dùng Thanh Ôn Bại Độc Ẩm gia giảm: Liên kiều, Hoàng cầm, Huyền sâm, Xích thược đều 10g, Tiêu sơn chi, Trúc diệp, Hoàng liên (sao), Tri mẫu đều 6g, Thạch cao (sống), Đại thanh diệp, Tử thảo, Ngân hoa đều 12g.

Thuốc Rửa

Khổ sâm, Mang tiêu đều 30g, Phù bình 15g. Nấu lấy nước, rửa (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).

Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm

Thanh Nhiệt Giải Độc Thang III (Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1987, 8): Kim ngân hoa, Liên kiều đều 6~9g, Tử thảo, Mộc thông đều 4,5~6g, Hoàng liên, Cam thảo đều 3~4,5g. Sắc uống.

Tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, khứ thấp. Trị thủy đậu.

Đã trị 60 ca. Trong đó nhẹ và vừa có 13 ca, 47 ca nặng. Đều khỏi hẳn. Sau nửa ngày thì hạ sốt, có khi kéo dài đến 2 ngày mới hạ sốt. Trung bình 1 ngày là hạ sốt.. Thời gian nốt đậu đóng vẩy: đa số 2~3 ngày, một số ít 4 ngày.

Ngân Thạch Thang (Hắc Long Giang Trung Y Dược 1990, 1): Ngân hoa, Thạch cao (nấu trước) đều 30g, Huyền sâm, Tử thảo, Trạch tả đều 15g, Bạc hà 9g (cho vào sau), Kinh giới 6g. Sắc uống.

Tác dụng: Thanh nhiệt giải độc, sơ phong, lương huyết, khứ thấp. Trị thủy đậu

Đã trị 116 ca. Toàn bộ đều khỏi. Uống 2~5 thang. Thường sau 1 thang, đều hạ sốt.



U xơ tử cung sớm đã được thấy trong Đông y trong các chứng trưng hà, tích tụ, rong kinh, rong huyết, kinh nguyệt tiên kỳ, kinh nguyệt hậu kỳ…bệnh được chữa theo các thể tương ứng:

Khí Trệ Huyết Ứ
Triệu chứng: Hành kinh không sướng (thông) hoặc băng lậu ra máu, có kèm theo cục máu tím đen, bụng dưới trướng đau, sợ sờ nắn, sau khi máu cục ra thì giảm đau, trước khi hành kinh bầu vú căng đau, sắc mặt mờ tối, chất lưỡi tím đen, hoặc ven lưỡi có điểm ban ứ, mạch trầm huyền hoặc huyền sáp.

Pháp: Hoạt huyết tán kết, phá ứ liêu trưng.

Phương: Tử cung tiêu lựu hoàn

Đan bì, Xích thược, Nhũ hương, Hải tảo, Côn bố, Hạ khô thảo, Tam lăng Nga truật, Đương quy, Diên hồ sách, Hương phụ.

Thuốc chế thành viên hoàn,  mỗi ngày  3 lần, mỗi lần 4 viên uống với nước. Ba tháng là 1 liệu trình.

Hoặc

U xơ tử cung  thể Khí Trệ Huyết Ứ
Đào nhân 15 Thuỷ điệt 15 Chế đại hoàng 12
Sinh mẫu lệ 12 Miết giáp 12 Quy bản 12 Miêu trảo thảo 20
Hạ khô thảo 20 Côn bố 20 Hải tảo 20 Tam lăng 12
Ô dược 10 Hương phụ 10
Phương pháp chế dùng: Mỗi ngày 1 tễ, sắc nước chia 2 lần. Sau khi sạch kinh bắt đầu uống thuốc, thời gian hành kinh thì dừng thuốc.


Khử ứ tiêu trưng thang
Vương bất lưu hành 12 Nga truật 12 Sinh quán chúng 15
Đương quy 10 Đào nhân 10 Tam lăng 10 Hương phụ 10
Hạ khô thảo 15 Sinh mẫu lệ 20 Côn bố 30 Hải tảo 20
Xuyên tục đoạn 15  

Khí Hư Huyết Ứ
Triệu chứng: Thời gian trước kỳ hành kinh lượng nhiều, hoặc băng hoặc lậu sắc hồng nhạt chất lỏng, sắc mặt vàng úa, thần mệt mỏi không có sức, đầu choáng tim thổn thức, mặt phù chi sưng, phân lỏng nát, bụng dưới căng xệ xuống, chất lưỡi nhạt hoặc sắc hơi tím rõ rệt, mạch trầm tế hoặc nhu tế.

Pháp: Ích khí hoạt huyết, tiêu những tán kết.

Phương: Cung trưng thang

U xơ tử cung thể  Khí Hư Huyết Ứ Đương quy Bào sơn giáp Đào nhân
Nga truật 15 Hương phụ 15 Tục đoạn 15 Hạ khô thảo 15
Hoài Ngưu tất 15 Vương bất lưu hành 9 Tam lăng 9 Côn bố 15
Dĩ nhân 30 Đảng sâm 10 Bạch truật 12 Phục linh 12


Âm Hư Huyết Nhiệt
Triệu chứng: Lượng kinh nhiều mà không dứt, kèm có cục máu tím đen, số ngày kinh kéo dài, bụng dưới có bọc khối rắn cứng, đẩy vào đó không di chuyển, đầu choáng, tâm hoảng hốt, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô lưỡi táo, lưỡi hồng xám, ven lưỡi có điểm ứ, mạch tế sáp.

Pháp: Tư âm thanh nhiệt, hoạt huyết hoá ứ.

Phương: Quế cầm tiêu lựu hoàn

U xơ tử cung thể  Âm Hư Huyết Nhiệt Quế chi 12 Miết giáp 12 Xích thược 12
Phục linh 15 Đan bì 10 Đào nhân 10 Xuyên sơn giáp 10
Hoặc
 Cầm liên tứ vật thang


Hoàng cầm, Hoàng liên, Đương quy, Thục địa, Xuyên khung, Bạch thược dùng với liều lượng thích hợp.

Thận Dương Bất Túc
Triệu chứng: Thời gian trước kỳ hành kinh lượng nhiều, hoặc băng hoặc lậu sắc hồng nhạt chất lỏng, sắc mặt nhợt, thần mệt mỏi không có sức, hay tự ra mồ hôi, phân lỏng nát, chân tay thường lạnh, lưng gối mỏi, bụng dưới căng xệ xuống, chất lưỡi nhạt, mạch trầm nhược.

Pháp: hoạt huyết hóa ứ, ôn thận trợ dương

Phương: tiêu tích thang gia giảm

U xơ tử cung thể   Thận Dương Bất Túc quế chi 6 thỏ ty tử 15 cẩu tích 15
dâm dương hoắc 15 ba kích 15 đương quy 12 hương phụ 6
tiểu hồi 9 tam lăng 12 nga truật 12 vương bất lưu hành 12


U xơ tử cung là gì?

Từ góc nhìn của : -  >>>Y HỌC CỔ TRUYỀN <<<
                                -   Y HỌC HIỆN ĐẠI

Cứ khoảng 4 – 5 phụ nữ trong độ tuổi trên 35 lại có một người bị u xơ tử cung. Đây là một loại khối u không phải ung thư của tử cung xuất hiện trong thời kỳ sinh đẻ của người phụ nữ. Vị trí của u xơ có thể xuất hiện bên trong hoặc bên ngoài nội mạc tử cung, cũng như bên trong hoặc bên ngoài lớp cơ của thành tử cung. Thường u xơ bắt nguồn từ chỉ một tế bào cơ trơn rồi tiếp tục phát triển lên. Tên gọi đầy đủ là U xơ cơ tử cung (gọi tắt là u xơ tử cung).

Một người có thể có một hoặc nhiều u xơ cùng lúc trên tử cung. Kích thước của nó có thể thay đổi từ cỡ hạt đậu đến quả bưởi. Đa số u xơ có kích thước nhỏ, nhưng đôi khi khối u phát triển đến kích thước không ngờ. Khối u xơ có thể phát triển chậm chạp, nhưng đôi khi lại rất nhanh. Trong suốt thời gian phát triển, u xơ gần như vô hại. Nó không làm tăng nguy cơ ung thư tử cung và hầu hết không tiến triển thành ung thư.

Nếu khối u gây đau chói đột ngột vùng chậu thì cần phải được điều trị cấp cứu. Biến chứng này hiếm xảy ra. Nói chung u xơ tử cung ít gây khó chịu và hiếm khi cần phải điều trị. Người ta có thể sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật để làm giảm kích thước hoặc cắt bỏ hoàn toàn khối u.

Dấu hiệu và triệu chứng

Có thể bạn không cảm thấy bất thường gì xảy ra trong cơ thể nếu bạn bị u xơ tử cung. Đến hơn 50% phụ nữ bị u xơ không biểu hiện triệu chứng. Hầu hết các u xơ tử cung được phát hiện tình cờ khi thăm khám vùng chậu định kỳ hoặc theo dõi trước khi sanh. Những dấu hiệu thường gặp nhất của u xơ tử cung là:

•         Chảy máu kinh bất thường -  nặng hơn hoặc kéo dài hơn.

•         Đau bụng hoặc đau lưng vùng thấp.

•         Giao hợp đau.

•         Triệu chứng thiếu máu (do mất nhiều máu kinh).

•         Tiểu khó hoặc tiểu lắt nhắt do khối u xơ chèn ép lên bàng quang.

•         Tăng áp lực vùng chậu.

•         Vô sinh hoặc sẩy thai. • Táo bón.

Nguyên nhân

Hiện nay nguyên nhân còn chưa rõ ràng. Yếu tố di truyền có lẽ đóng một vai trò nào đó trong bệnh này. Bạn có nhiều khả năng bị u xơ tử cung hơn nếu như trong gia đình bạn cũng có người nữ từng bị u xơ.

Sự phát triển của u xơ dường như cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố hormone, nhất là estrogen. U xơ có xu hướng phát triển suốt trong giai đoạn sinh đẻ của người phụ nữ và phát triển rất nhanh trong thai kỳ khi nồng độ estrogen tăng cao nhất. Sau mãn kinh khối u xơ thường thu nhỏ lại do nồng độ estrogen suy giảm. Một số hormone khác, như progesterone, cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của u xơ.

Yếu tố nguy cơ

Chỉ có một vài yếu tố nguy cơ của u xơ đã được biết, ví dụ như độ tuổi sinh đẻ. Những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn khác vẫn còn chưa được biết rõ. Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ béo phì có nguy cơ bị u xơ cao hơn, ngược lại một số khác lại không cho thấy có mối liên hệ nào. Vấn đề cũng tương tự như vậy khi một số nghiên cứu chứng tỏ phụ nữ sử dụng thuốc ngừa thai uống và nữ vận động viên điền kinh ít có nguy cơ bị u xơ, trong khi có những nghiên cứu phản bác điều này.

Khi nào bạn cần lời khuyên của Bác sĩ?

Bạn cần đến Bác sĩ khi xuất hiện những cơn đau vùng chậu dai dẳng không dứt, cơ đau có thời gian hoặc cường độ quá mức, ra máu âm đạo bất thường giữa các kỳ kinh nguyệt, giao hợp đau, tiểu khó hoặc lắt nhắt, thường xuyên táo bón,...Đáng lưu ý nhất là đột ngột ra máu âm đạo nhiều hoặc đau chói vùng chậu.

Tầm soát và chẩn đoán

Nhằm phát hiện khối u xơ, các bác sĩ sẽ khám bụng, khám vùng chậu và thăm âm đạo. Trong nhiều trường hợp, bác sĩ sẽ đề nghị bạn làm siêu âm – một phương tiện thăm khám không gây đau, sử dụng sóng âm thanh cao tần để chuyển hình ảnh tử cung của bạn lên màn hình. Các hình ảnh này sẽ rất hữu ích cho chẩn đoán, nhất là để theo dõi sự phát triển của khối u.

Soi buồng tử cung cũng có thể được sử dụng. Đó là một thủ thuật không xâm nhập, người ta dùng một đầu camera nhỏ, phát sáng đưa vào trong buồng tử cung thông qua ngõ âm đạo và cổ tử cung. Phương pháp này cho phép bác sĩ nhìn thấy được lớp nội mạc buồng tử cung và có thể lấy một mẫu mô nhỏ nếu cần thiết (để làm tế bào học).

Biến chứng

U xơ tử cung thường không nguy hiểm, nhưng đôi khi có thể gây khó chịu, hoặc có thể có biến chứng như thiếu máu  (do mất nhiều máu hơn khi hành kinh), khó thụ thai vì khối u có thể làm biến dạng tử cung và lớp nội mạc tử cung, gây bất lợi cho sự làm tổ của trứng. Đôi khi khối u có thể gây cản trở hoặc tắc nghẽn ống sanh, nhất là các u nằm ở eo tử cung, có thể gây khó khăn cho cuộc sanh. Tuy nhiên, thường u xơ tử cung mềm đi khi có thai và ít khi gây trở ngại cho thai kỳ.

Trong một số hiếm trường hợp, khối u nằm dưới thanh mạc, ngoài lớp cơ tử cung và có cuống, nó thể bị xoắn vặn gây nên cơn đau chói nặng nề và đột ngột ở vùng bụng dưới của bạn. Trường hợp này cần phải được phẫu thuật gấp.

Điều trị u xơ tử cung

Nếu khối u xơ không có triệu chứng gì, bạn chỉ cần theo dõi thường xuyên, thăm khám và siêu âm theo dõi kích thước của nó. Nếu u xơ có triệu chứng, bác sĩ của bạn sẽ áp dụng một trong những biện pháp sau đây:

Dùng thuốc

Thuốc ngừa thai uống hoặc các hormone sinh dục giúp kiểm soát triệu chứng cường kinh. Tuy nhiên các thuốc này không làm thay đổi kích thước khối u. Các thuốc đồng vận với hormone GnRH (Hormone phóng thích hormone hướng sinh dục) (như Lupron, Viadur, …) có thể làm giảm kích thước khối u xơ do hạ thấp nồng độ estrogen trong cơ thể bạn. Điều trị này không thể dùng lâu dài, thường áp dụng để chuẩn bị cho phẫu thuật. Không may là các chất đồng vận của GnRH gây ra nhiều triệu chứng của mãn kinh như cơn nóng bừng, tính khí nóng nảy, nhức đầu, khô âm đạo và mất xương. Nếu sử dụng các thuốc này, bác sĩ thường phải dùng kèm thêm các thuốc điều trị các triệu chứng mãn kinh nói trên. Khối u xơ thường tái phát sau khi ngưng thuốc. Hầu hết các thuốc điều trị u xơ được sử dụng như một liệu pháp tạm thời trong mãn kinh sớm hoặc chuẩn bị cho phẫu thuật.

Phẫu thuật u xơ tử cung

Đôi khi cần phải phẫu thuật để cắt bỏ khối u. Một phương pháp thường dùng là thủ thuật cắt bỏ u cơ, trong thủ thuật này người ta chỉ cắt bỏ khối u và giữ nguyên tử cung. Đây là một biện pháp quan trọng nếu bạn còn muốn tiếp tục có con. Một phẫu thuật khác là cắt tử cung. Biện pháp này điều trị u xơ hữu hiệu nhất, nhưng chỉ nên thực hiện nếu u xơ gây triệu chứng. Phẫu thuật cắt tử cung ít biến chứng hơn phẫu thuật cắt khối u xơ và đó là giải pháp điều trị tận gốc. Nếu cắt khối u xơ, tỷ lệ tái phát khoảng 10%.

Trong 10 năm gần đây, thế giới đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của những kỹ thuật ít xâm nhập như cắt u xơ qua soi buồng tử cung hoặc nội soi ổ bụng. Người ta dùng một camera rất nhỏ gắn vào đầu một que nhỏ dài với nguồn sáng lạnh đưa vào bên trong buồng tử cung (qua âm đạo và cổ tử cung) hoặc trong ổ bụng (qua một đường rạch nhỏ vùng giữa thành bụng), hình ảnh ghi được từ camera được truyền theo dây cáp quang ra một màn hình theo dõi bên ngoài. Với thủ thuật này, sự lành vết thương hết sức mau chóng và để lại sẹo nhỏ. Tuy nhiên hiện nay chúng chỉ được áp dụng cho các u xơ nhỏ hoặc các u xơ mới hình thành nhưng có tốc độ phát triển nhanh. Nói chung phẫu thuật qua nội soi hiếm khi cần vì thường các u xơ nhỏ không cần điều trị.

Gây tắc động mạch nuôi khối u


Phương pháp không phẫu thuật và rất ít xâm nhập này có thể là một lựa chọn tốt cho những bệnh nhân không muốn phẫu thuật. Thủ thuật này làm nhỏ khối u bằng cách cắt hoặc gây tắc động mạch cấp máu nuôi dưỡng chúng. Bác sĩ - dưới sự hướng dẫn của X quang, luồn một ống nhỏ (catheter) qua động mạch chi dưới vào động mạch tử cung, rồi vào nhánh động mạch nuôi khối u. Khi catheter đã định vị trí chính xác, người ta đưa vào một mảnh plastic hoặc gelatin nhỏ gây tắc hoàn toàn dòng máu vào khối u. Sau một thời gian, u xơ không được cấp máu sẽ thu nhỏ kích thước hoặc biến mất hoàn toàn.

Đây là một phương pháp tương đối mới mẻ trong điều trị u xơ tử cung, đặc biệt được dùng nhiều trong các u xơ gây chảy máu nhiều sau sanh. 85% phụ nữ được điều trị theo phương pháp này hoàn toàn không còn các triệu chứng đau hoặc các triệu chứng do khối u. thường bệnh nhân phải nằm lại trong bệnh viện để theo dõi một ngày, và hầu hết các bệnh nhân áp dụng biện pháp này đều có triệu chứng co thắt cơ bụng trong vài giờ đến vài ngày sau thủ thuật. Tỷ lệ sang chấn tử cung cũng như nhiễm trùng rất thấp. Các nghiên cứu về khả năng có thai trở lại sau thủ thuật hiện chưa hoàn thành. Tỷ lệ tái phát u xơ cũng chưa được biết rõ, và những ảnh hưởng lâu dài của thủ thuật còn phải được nghiên cứu thêm.

Phòng ngừa.

Mặc dù người ta đang đào sâu nghiên cứu về nguyên nhân bệnh sinh của u xơ nhưng hiện vẫn còn nhiều điều chưa rõ ràng trong vấn đề này. Chính vì vậy mà việc phòng ngừa bệnh còn nhiều trở ngại và chưa có biện pháp nào thực sự hiệu quả. Một điều may mắn là hầu hết các u xơ tử cung đều không đòi hỏi phải điều trị.






Táo bón là một chứng thường gặp trong bệnh đường tiêu hóa, trong đó phân nằm lâu trong đại tràng không được tống ra ngoài.

Một người bình thường có thể đi đại tiện 2 lần/ngày, hoặc 2 – 3 lần/tuần, số lần đi phụ thuộc vào thói quen, hoàn cảnh từng người, khối lượng phân mỗi ngày khoảng trên 200g. Người bị táo bón đi đại tiện < 2 lần/tuần, phân cứng và ít (<100g), phải ngồi lâu, rặn nhiều, nhiều khi có cảm giác đại tiện không hết phân cho nên khó chịu và có cảm giác muốn đi ngoài.

Táo bón có thể có nguyên nhân tổn thương thực thể và táo bón có nguồn gốc chức năng. Táo bón mạn tính thường có nguồn gốc chức năng như: ăn uống , thói quen về sinh hoạt, rối loạn cơ năng đại tràng, rối loạn chuyển hóa, do thuốc, trong bệnh cảnh của các bệnh mạn tính khác…

Trong Y học cổ truyền táo bón mạn tính được gọi tên là tiện bí để chỉ tình trạng đại tiện bí kết không thông, người bệnh khi đi ngoài phải ngồi lâu hoặc muốn đi ngoài nhưng khi đi ngoài lại rất khó khăn, phát sinh ra Tiện bí do rối loạn chức năng vận chuyển của đại trường bởi nhiều nguyên nhân gây ra.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh theo Y học cổ truyền của Táo bón

Do vị trường táo kết:

Do bản thân cơ địa người bệnh phần dương mạnh, hay trong quá trình sinh hoạt có thói quen uống nhiều rượu, ăn nhiều thức ăn gia vị cay nóng.

Do sau khi mắc các bệnh ôn nhiệt (các bệnh nhiễm trùng có sốt thì tàn dư của nhiệt còn lại gây tổn thương phần âm dịch của cơ thể).

Những nguyên nhân này dẫn đến đại trường táo nhiệt, do tân dịch bị tiêu hao không đưa được xuống dưới, làm phân khô kết lại và khó bài tiết ra ngoài

Do khí trệ: Thường tinh thần bị căng thẳng, suy nghĩ nhiều hoặc ngồi lâu, ít vận động, dẫn đến khí ngưng, làm cho công năng vận chuyển của trường vị bị rối loạn, chất bã bị đình ngưng ở bên trong gây ra táo bón.

Do khí huyết bị tổn thương: Thường hay gặp ở những người lao lực quá độ, sau khi mắc bệnh kéo dài, hay phụ nữ sau đẻ, người cao tuổi… làm khí huyết bị tiêu hao. Khí hư làm nhu động vận chuyển của đại trường bị suy giảm. Huyết hư làm tân dịch bị suy cạn không thể tư nhuận được đại tràng đều khiến cho đại tiện bài tiết khó khăn.

Phân loại các thể lâm sàng theo Y học cổ truyền

Táo bón Thể âm hư huyết nhiệt (nhiệt bí)

Triệu chứng: Táo bón lâu ngày, miệng khô, họng khô, bứt rứt khó chịu (tâm phiền), khát nước, rêu lưỡi vàng khô, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác hoặc hoạt sác.

Pháp điều trị: tùy theo từng trường hợp cụ thể mà chọn pháp:

Lương huyết nhuận táo

Dưỡng tâm nhuận táo

Thanh nhiệt nhuận táo

Bài thuốc cổ phương:

Lương huyết nhuận táo: dùng bài  Ma tử nhân hoàn

Ma tử nhân            100g            Hạnh nhân             50g

Bạch thược            50g              Đại hoàng              40g

Hậu phác               40g              Chỉ thực                 40g

Tất cả tán bột làm hoàn, mỗi ngày uống 20 – 30 g

Thanh nhiệt nhuận táo dùng bài: Lương cách tán

Đại hoàng              20g              Mang tiêu              20g

Cam thảo               20g              Chi tử                    10g

Hoàng cầm            10g              Hà diệp                  10g

Tất cả tán bột, mỗi lần uống từ 12 – 24g. Uống 1 – 2 lần/ngày

Dưỡng âm nhuận táo thì dùng bài: Điều vị thừa khí thang gia vị

Đại hoàng              16g              Sinh địa       12g

Mang tiêu              12g              Thạch hộc    16g

Cam thảo               6g

Tất cả làm thang, sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần. Khi bệnh nhân đi đại tiện bình thường rồi thì dừng.

Táo bón Thể huyết hư

Triệu chứng: đại tiện táo lâu ngày, hoa mắt, chóng mặt, vàng đầu, tâm phiền, sắc mặt nhợt nhạt, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế.

Pháp điều trị: Dưỡng huyết nhuận táo.

Bài thuốc: Hoạt trường hoàn

Đương quy            12g              Sinh địa                 12g

Ma nhân                12g              Đào nhân               8g

Chỉ xác                  8g

Tất cả tán bột làm hoàn, mỗi ngày uống 10 – 20g

Nếu có hiện tượng âm hư thì phải tư âm tăng dịch, gia: Huyền sâm, Mạch đông.

Táo bón Thể khí hư

Triệu chứng: Đại tiện táo kéo dài, nhưng phân không quá khô kết, khi đi đại tiện phải cố rặn, sau khi đi đại tiện người mệt lả, thậm chí vã mồ hôi, khó thở. Sắc mặt trắng, tình thần mệt mỏi, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế.

Pháp điều trị: Ích khí nhuận tràng

Bài thuốc: Hoàng kỳ thang

Hoàng kỳ              20g              Trần bì                   10g

Ma nhân                10g              Bạch mi (mật ong) 3 thìa

Để tăng cường hiệu quả ích khí, kiện tỳ, thông tiện gia thêm: Đẳng sâm, Bạch truật, Hoài sơn, Cam thảo…

Tất cả làm thang sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần

Nếu khí hư hạ hãm có thể sử dụng bài Bổ trung ích khí thang gia vị

Chứng táo bón trong Y học cổ truyền ít sử dụng châm cứu. Nếu có châm thì chỉ đóng vai trò hỗ trợ… Một số huyệt đạo có thể tham khảo để tùy trường hợp cụ thể phối hợp thuốc.

Phác đồ huyệt chung: Châm bổ Thiên khu, Trung quản, Tỳ du, Đại trường du, Túc tam lý, Chi câu.

Nếu dương khí kém thì cứu các huyệt trên.

Nếu âm hư huyết nhiệt thì châm bổ thêm: Tam âm giao, Thái khê.

Nếu thiếu máu thêm huyệt Cách du, Cao hoang.

Trong điều trị táo bón mạn tính, để được ổn định lâu dài, ngoài xây dựng một thói quen sinh hoạt khoa học, hợp lý, có thể tập luyện thêm phương pháp dưỡng sinh, khí công.





Những người bị viêm loét dạ dày, tá tràng thể hàn tà phạm vị có thể dùng gạo tẻ 100 g nấu thành cháo rồi hòa với sa nhân 5 g (tán bột), chia ăn vài lần trong ngày. Nếu thiếu sa nhân, có thể thay bằng ngô thù du 10 g, gừng tươi 3 lát hoặc hạt tiêu 3 g, gừng tươi 3 lát.

Hàn tà phạm vị là thể bệnh thường phát vào mùa lạnh hoặc khi ăn đồ sống, lạnh. Bệnh nhân đau bụng thành cơn, sợ lạnh, thích ấm nóng (nếu chườm nóng vùng thượng vị hoặc uống nước nóng thì đỡ đau); không khát, nếu có khát thì thích uống nước nóng; rêu lưỡi trắng, mạch khẩn. Người mắc thể này cũng có thể dùng món ăn bài thuốc sau:

- Cá diếc tươi 250 g, gừng tươi 30 g, quất bì 10 g, hạt tiêu 3 g. Cá đánh vảy, bóc mang, bỏ nội tạng và rửa sạch; gừng rửa sạch, thái phiến, quất bì thái chỉ. Dùng vải lụa gói gừng, quất bì và hạt tiêu rồi nhét vào bụng cá, cho nước vừa đủ, hầm nhỏ lửa, ăn cá, uống nước khi đói bụng.

Viêm loét dạ dày, tá tràng thể can khí phạm vị

Vùng thượng vị đau chướng, lan ra hai bên mạng sườn, không thích xoa nắn, nếu ấn vào thì đau tăng. Bệnh nhân buồn nôn, ợ hơi, ợ chua, đầy hơi, ăn khó tiêu, nếu ợ hơi hoặc trung tiện được thì dễ chịu, đại tiện không thông khoái, tinh thần uất ức, rêu lưỡi trắng dày, mạch huyền.

- Mạch nha sống 30 g (rửa sạch), thanh bì 10 g (thái phiến), sắc kỹ cả hai trong 25 phút rồi lọc bỏ bã, lấy nước, chia uống vài lần trong ngày khi còn ấm.

- Phật thủ 15 g rửa sạch, thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín rồi hòa thêm một chút đường phèn, uống thay trà trong ngày. Cũng có thể dùng phật thủ 20 g thái vụn, sắc lấy nước rồi cho 100 g gạo tẻ nấu thành cháo, chế thêm một chút đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày.

- Rễ cây quất vàng 30 g rửa sạch, thái đoạn, dạ dày lợn 150 g thái miếng, hầm cả hai thứ cho chín rồi chế thêm gia vị, ăn dạ dày, uống nước hầm.

Viêm loét dạ dày, tá tràng thể tỳ vị hư hàn

Vùng thượng vị đau âm ỉ suốt ngày. Bệnh nhân thích chườm nóng và xoa nắn, có cảm giác lạnh bụng, đầy hơi, ăn kém, chậm tiêu, có thể buồn nôn và nôn ra nước trong, gầy sút, mệt mỏi, da niêm mạc nhợt, đại tiện lỏng nát, tay chân lạnh, lưỡi nhợt bệu, mạch trầm tế.

- Cá diếc to 2 con, sa nhân 6 g, trần bì 3 g, tiểu hồi hương 6 g, hạt tiêu, hành, gừng, tỏi, muối ăn vừa đủ, dầu lạc 1.000 g. Cá đánh vảy, bỏ mang và nội tạng, rửa sạch; hạt tiêu giã nhỏ, trần bì thái chỉ, gừng thái phiến, hành cắt đoạn, sa nhân đập dập... Tất cả trộn đều rồi cho vào bụng cá. Đổ dầu vào chảo cho ngập cá rồi rán chín, sau đó lấy cá ra, dùng nồi khác phi hành tỏi, cho thêm một chút nước rồi rim cá nhỏ lửa với gia vị cho ngấm kỹ để ăn.

- Hạt sen bỏ tâm 40 hạt, dạ dày lợn 1 cái, gia vị và dầu thực vật vừa đủ. Dạ dày làm sạch rồi cho hạt sen vào trong khâu kín, đem hầm nhừ, sau đó thái chỉ, chế thêm gia vị, trộn lẫn hạt sen rồi ăn.

Viêm loét dạ dày, tá tràng thể ẩm thực đình trệ



Thường do ăn uống thái quá, thức ăn đình trệ lâu ngày gây nên. Vùng thượng vị đầy chướng, tức nặng khó chịu, ợ hôi, nuốt chua, nôn ra thức ăn chưa tiêu, nôn được thì bụng đỡ đau, đại tiện không thông thoáng, rêu lưỡi dày, cáu bẩn.

- Thần khúc 10-15 g đập vụn, sắc kỹ, lấy nước nấu với 100 g gạo tẻ thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày.

- Mạch nha 10 g rửa sạch, sao vàng, sơn tra 6 g sao cháy. Cả hai sắc kỹ trong 30 phút, bỏ bã, lấy nước, hòa thêm 10 g đường đỏ, chia uống vài lần trong ngày.

Hai bài thuốc dùng chung cho các thể

- Đại táo 25 g, bạch truật 30 g, kê nội kim 15 g (tán bột), bột mì 500 g. Sắc kỹ đại táo và bạch truật trong 1 giờ. Sau đó loại bỏ hạt táo, tiếp tục sắc nhỏ lửa rồi nghiền thành dạng bột nhão. Cho bột kê nội kim, bột mì và lượng nước vừa đủ, trộn đều và nặn thành những bánh nhỏ, nướng chín, ăn dần.

- Hoài sơn 30 g, ý dĩ 30 g, hạt sen bỏ tâm 15 g, đại táo 10 quả, gạo tẻ 50-100 g. Tất cả cho vào nồi nấu thành cháo, hòa thêm một chút đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày khi bụng đói.



Bệnh viêm loét dạ dày tá tràng thuộc phạm vi chứng vị quản thống, vị thống của y học cổ truyền.

Nguyên nhân do tình chí bị kích thích, dẫn đến can khí uất kết mất khả năng sơ tiết, làm rối loạn khí cơ thăng thanh giáng trọc của tỳ vị mà gây ra các triệu chứng đau vùng thượng vị, ợ hơi, ợ chua… hoặc do ăn uống thất thường, ăn nhiều các chất chua cay, … làm tỳ vị bị tổn thương mất khả năng kiện vận hoặc do tiên thiên bất túc (thận khí hư, tỳ vị hư) hàn tà nhân đó xâm nhập vào gây khí trệ, huyết ứ mà sinh ra các cơn đau.

Y học cổ truyền chia chứng vị quản thống làm 2 thể: can khí phạm vị  và tỳ vị hư hàn.

Các thể lâm sàng theo Y học cổ truyền của Viêm loét dạ dày – tá tràng
Viêm loét dạ dày – tá tràng Thể can khí phạm vị

Còn gọi là can vị bất hòa, can khắc tỳ, can mộc khắc tỳ thổ… Thường chia ra 3 thể nhỏ

Thể khí trệ: Còn gọi là thể khí uất

Triệu chứng: Đau vùng thượng vị từng cơn, đau lan ra 2 mạng sườn, xuyên ra sau lưng, bụng đầy chướng, ấn thấy đau (cự án), ợ hơi, ợ chua, chất lưỡi hơi đỏ, rêu lưỡi trắng hoặc hơi vàng mỏng, mạch huyền

Pháp điều trị: Hòa can lý khí (sơ can giải uất, sơ can hòa vị)

Bài thuốc:

Bài 1: Bột lá khôi

Lá khôi                  10g              Nhân trần               12g

Chút chít                10g              Lá khổ sâm            12g

Bồ công anh          12g

Tán bột mỗi ngày uống 30 g với nước sôi để nguội

Bài 2: Bột mai mực

Mai mực                          Gạo tẻ

Cam thảo                         Hoàng bá    

Hàn the phi            Kê nội kim

Mẫu lệ nung

Thành phần bằng nhau, tán bột, uống mỗi ngày 20 – 30g

Bài 3: Cao dạ cẩm

Cây dạ cẩm            300g

Đường                    900g
Nấu thành cao hoặc chế siro, uống mỗi ngày với lượng thuốc cao hay siro tương đương với 20g dạ cẩm

Bài 4:

Lá khôi                  20g              Bồ công anh                    20g

Khổ sâm                16g              Hương phụ            8g

Hậu phác               8g                Uất kim                  8g

Cam thảo nam       16g

Sắc uống ngày 1 thang

Bài 5 Sài hồ sơ can thang

Sài hồ          12g              Xuyên khung        8g

Chỉ xác        8g                Hương phụ            8g

Bạch thược  12g              Thanh bì                8g

Cam thảo               6g

Sắc uống ngày 1 thang

Nếu đau nhiều thêm Khổ luyện tử 8g, Diên hồ sách 8g.

Nếu ợ chua nhiều thêm Mai mực (Hải phiêu tiêu, Ô tặc cốt) 20g.

Bài 6: Nếu đau vùng thượng vị dữ dội có thể dùng bài Trầm hương giải khí thang

Trầm hương          6g                Hương phụ            10g

Sa nhân                 8g                Diên hồ sách                    8g

Chích cam thảo     6g                Khổ luyện tử                    8g

Sắc uống ngày  1 thang

Châm cứu: Châm tả Thái xung, Tam âm giao, Túc tam lý, Trung quản, Thiên khu, Can du, Tỳ du, Vị du.

Châm loa tai: vùng dạ dày, giao cảm
Thủy châm các huyệt trên bằng Atropine, Novocain, B12 để cắt cơn đau

Thể hỏa uất

Triệu chứng: Vùng thượng vị đau nhiều, đau rát, cự án, miệng khô đắng, hay ợ chua, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác.

Pháp điều trị: Sơ can tiết nhiệt

Bài thuốc:

Bài 1:

Thổ phục linh      16g              Vỏ bưởi bung                  8g

Lá độc lực             8g                Nghệ vàng                       12g

Bồ công anh          16g              Kim ngân hoa                  12g

Sắc uống ngày 1 thang

Bài 2

Hoàng cầm            16g              Mai mực                          20g

Sơn chi                  12g              Mạch nha                         20g

Hoàng liên             8g                Cam thảo                         6g

Sơn thù                   2g                Đại táo                             12g

Sắc uống ngày 1 thang

Bài 3: Sài hồ sơ can thang gia Xuyên luyện tử 6g, Mai mực 16g

Bài 4: Hóa can tiễn hợp với bài Tả kim hoàn thang gia giảm

Thanh bì                          8g                Bạch thược            12g

Chi tử                              8g                Đan bì                              8g

Trần bì                             6g                Hoàng liên             8g

Trạch tả                           8g

Sắc uống ngày 1 thang.
Bài 5: Nếu can hỏa mạnh làm tổn thương đến phần âm thì dùng bài Thanh can ẩm.

Sinh địa                           12g              Đương quy            8g

Sơn thù                            8g                Chi tử                    8g

Phục linh                         8g                Sài hồ                    12g

Hoài sơn                          12g              Bạch thược            12g

Trạch tả                           8g                Đại táo                   12g

Đan bì                             8g

Sắc uống ngày 1 thang.

Châm cứu: châm tả các huyệt trên thêm Nội định, Hợp cốc, Nội quan.

Châm loa tai: như trên

Thể huyết ứ:

Triệu chứng: đau dữ dội ở một vị trí nhất định ở vùng thượng vị, cự án. Gồm hai loại: thực chứng và hư chứng.

Thực chứng: Nôn ra máu, ỉa phân đen, môi đỏ, lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch huyền sác, hữu lực (bệnh thể cấp)

Hư chứng: Sắc mặt xanh nhợt, người mệt mỏi, chân tay lạnh, môi nhợt, chất lưỡi bệu có điểm ứ huyết, rêu lưỡi nhuận, mạch hư đại hoặc tế sáp (bệnh thể hoãn).

Pháp điều trị:

Thực chứng: Thông lạc hoạt huyết hay lương huyết chỉ huyết

Hư chứng: Bổ huyết chỉ huyết

Bài thuốc

Thực chứng:

Bài 1:

Bằng sa        60g

Uất kim        40g

Bạch phàn   60g

Tán bột làm viên, mỗi ngày uống 10g, chia làm 2 lần

Bài 2:

Sinh địa       40g              Cam thảo               6g

Hoàng cầm  12g              Bồ hoàng               12g

Trắc bách diệp 16g              Chi tử                    8g

A giao               12g

Sắc uống ngày 1 thang

Bài 3: Thất tiêu tán

Ngũ linh chi          12g

Bồ hoàng               12g

Tán bột mỗi ngày uống 10g chia 2 lần

Hư chứng

Bài 1:

Đẳng sâm             16g              Kê huyết đằng                 12g

Hoài sơn              12g              Rau má                            12g

Ý dĩ                       12g              Cam thảo dây                   12g

Hà thủ ô                 12g              Đỗ đen sao                      12g

Huyết dụ                12g

Sắc uống, ngày 1 thang

Bài 2: Hoàng thổ thang gia giảm

Đất lòng bếp (Hoàng thổ)   10g              Địa hoàng              12g

A giao                                 12g              Cam thảo               12g

Phụ tử chế                           12g              Hoàng cầm            12g

Bạch truật                            12g              Đẳng sâm              12g

Sắc uống ngày 1 thang
Bài 3: Tứ quân tử thang gia vị

Đẳng sâm              16g              Hoàng kỳ               12g

Bạch truật              12g              A giao                              8g

Phục linh               12g              Cam thảo               6g

Sắc uống ngày 1 thang

Bài 4: Điều doanh liễm can ẩm gia giảm

Đương quy            12g              Phục linh               12g

Xuyên khung        10g              Mộc hương            6g

A giao                   8g                Kỷ tử                     12g

Ngũ vị tử              6g                Gừng                     2g

Táo nhân              8g                Trần bì                   6g

Bạch thược            12g              Đại táo                   12g

Sắc uống ngày 1 thang

Nếu xuất huyết không cầm gia thêm Tam thất 8g.

Nếu thiếu máu nhiều thêm Nhân sâm 4g, Hoàng kỳ 12g, Bạch truật 12g

Nếu sốt do bội nhiễm thêm Sinh địa 12, Huyền sâm 12g, Đan bì 12g

Châm cứu:

Thực chứng: Châm tả Can du, Tỳ du, Thái xung, Huyết hải, Hợp cốc.

Hư chứng: Cứu Can du, Tỳ du, Cao hoang, Cách du, Tâm du.

Thể tỳ vị hư hàn
Triệu chứng: đau vùng thượng vị liên miên, nôn nhiều, mệt mỏi, thích xoa bóp và chườm nóng, đầy bụng, nôn ra nước trong, sợ lạnh, chân tay lạnh, đại tiện phân nát, có lúc táo, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhợt, mạch hư tế.

Pháp điều trị: Ôn trung kiện tỳ (ôn bổ tỳ vị, ôn vị kiện trung)

Bài thuốc:

Bài 1

Bố chính sâm                   12g              Bán hạ chế             6g

Lá khôi                            20g              Sa nhân                  10g

Gừng                               4g                Trần bì                   6g

Nam mộc hương    10g

Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2:

Hoàng kỳ kiến trung thang gia giảm

Hoàng kỳ                        16g              Quế chi                  8g

Sinh khương                    6g                Bạch thược            8g

Cam thảo                         6g                Đại táo                   12g

Hương phụ                     8g                Cao lương khương 6g

Sắc uống, ngày      1 thang.

Nếu đầy bụng, ợ hơi (khí trệ) thêm Chỉ xác, Mộc hương mỗi thứ 6g, trong bụng óc ách nước, nôn ra nước trong bỏ Quế chi thêm Bán hạ chế 8g, Phục linh 8g
Bài 3:

Nếu toan dạ dày có thể dùng Ô mai hoàn.

Ô mai          10 quả                       Hoàng bá               18g

Phụ tử chế   8g                              Hoàng liên             8g

Quế chi                  6g                   Can khương           6g

Tế tân                    6g                    Đương quy            8g

Đẳng sâm              12g                   Xa tiền                   10g

Sắc uống ngày 1 thang.

Châm cứu: Cứu Trung quản, Thiên khu, Tỳ du, Vị du, Quan nguyên, Khí hải, Túc tam lý.





Với những kinh nghiệm được tích lũy từ hàng ngàn năm, cùng các loại thuốc thảo dược quý, Y học cổ truyền được coi là có thế mạnh rất lớn trong công cuộc phòng chống, điều trị nhiều căn bệnh. Trong đó có bệnh viêm đại tràng mạn tính.

 Đây là một bệnh có tỷ lệ người mắc khá cao, chiếm hơn 20% dân số, bệnh thường xuyên tái phát và gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người bệnh. Dưới góc nhìn của Đông y, viêm đại tràng mạn tính là một bệnh như thế nào? Có nguyên nhân từ đâu?

Quan điểm của Đông y về viêm đại tràng mạn tính

Trong Y học cổ truyền người ta không gọi là bệnh viêm đại tràng mạn tính mà tùy vào những triệu chứng cụ thể: đau bụng gọi là phúc thống, đại tiện lỏng nát nhiều lần gọi là chứng tiết tả, đau dọc theo khung đại tràng gọi là tràng phong, nếu phân có nhiều nhầy, máu hoặc mót rặn gọi là lỵ tật.

Viêm đại tràng mạn tính là một bệnh dai dẳng, hay tái phát. Triệu chứng thường gặp là mệt mỏi, ăn kém, chán ăn, ăn không tiêu, thường bị rối loạn tiêu hóa (đi lỏng, phân lúc lỏng lúc sền sệt, lúc lại bị táo bón) da xanh, gầy sút, tinh thần căng thẳng nên hay cáu gắt vô cớ.

Ngoài ra người bệnh thường bị đau bụng vùng hố chậu, hạ vị, đau dọc theo khung đại tràng cho nên rất dễ nhầm lẫn với một số bệnh như viêm ruột thừa, bệnh đường tiết niệu hay viêm phần phụ ở nữ giới. Những cơn đau bụng thường là đau quặn từng cơn, cũng có khi đau âm ỉ, bụng trướng, sôi bụng. Khi đau thường mót đi đại tiện, sau khi đi đại tiện thì bụng giảm đau hoặc hết đau.


Theo Đông y, các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến bệnh viêm đại tràng mạn tính là:

Nguyên nhân về ăn uống: ăn không hợp vệ sinh, ăn những chất tanh, đồ ăn sống, ôi thiu… dễ gây ra chứng bệnh này.

Gặp những điều kiện môi trường không thuận lợi – đông y gọi là phong hàn thử thấp – làm tổn thương chức năng của cơ quan tiêu hóa như tỳ vị.

Điều kiện sinh hoạt, công việc căng thẳng nhiều.

Trạng thái cơ thể suy yếu, chức năng tỳ vị suy kém, chức năng tạng thận ở một số bệnh mạn tính cũng gây ra bệnh này.

Khi bị viêm đại tràng, người bệnh thường xuyên lo lắng về bệnh tật, ăn uống lại phải kiêng khem, không dám ăn thức ăn lạ, thức ăn nhiều dầu mỡ hay chất tanh, không ít trường hợp dẫn tới tình trạng cơ thể bị thiếu chất, gây suy kiệt nghiêm trọng. Đó là chưa kể đến những bất tiện trong sinh hoạt và công việc, khi mà người bệnh viêm đại tràng mạn tính thường xuyên gặp phải triệu chứng đau bụng.

Mặt khác, ung thư đại tràng hiện nay có nguyên nhân hàng đầu là do viêm đại tràng mạn tính kéo dài. Bởi vậy, cần phải điều trị thật tốt cũng như dự phòng hiệu quả căn bệnh này để có thể hạn chế những biến chứng và ảnh hưởng do viêm đại tràng mạn tính mang lại.

Điều trị viêm đại tràng mạn tính như thế nào?


Để điều trị viêm đại tràng mạn tính, nguyên tắc chung của Đông y là phải đảm bảo tính toàn diện, nghĩa là ngoài việc dùng thuốc phải đồng thời sử dụng nhiều biện pháp như tiến hành các kỹ thuật không dùng thuốc (châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt cho phù hợp, tích cực tập luyện khí công dưỡng sinh để nâng cao chính khí (hay còn gọi là sức đề kháng), bảo đảm giấc ngủ và tạo lập đời sống tinh thần thoải mái.

Đương nhiên trong số đó thì vấn đề dùng thuốc vẫn giữ một vai trò hết sức quan trọng và thường được tiến hành theo hai hướng: “biện chứng thi trị và biện bệnh thi trị”. Biện chứng thi trị (hay còn gọi là biện chứng luận trị) là phương thức trị liệu dựa trên cơ sở chứng trạng và thể bệnh cụ thể mà tiến hành lựa chọn các vị thuốc và bài thuốc phù hợp. Biện bệnh thi trị là phương thức dựa trên cơ chế bệnh sinh chủ yếu của bệnh mà xây dựng một phác đồ điều trị chung cho nhiều thể bệnh.

Tùy vào triệu chứng của bệnh nhân mà có những phương pháp như: bệnh nhân có hàn thì dùng thuốc ôn ấm; bệnh nhân có thấp nhiệt thì ta phải thanh nhiệt trừ thấp; có tạng phủ như tỳ vị hư thì phải kiện tỳ ích vị; thận hư thì phải bổ thận.(còn với các vị thuốc thường dùng )Chẳng hạn như vị hoàng liên này có tính kháng sinh rất mạnh và có tác dụng trừ thấp  rất tốt với viêm đại tràng mạn tính. Những vị thuốc kiện tỳ như đảng sâm, bạch truật có tác dụng kiện tỳ trừ thấp, sa nhân là vị thuốc rất quý của Việt Nam có tác dụng hành khí kiện tì tiêu thực…

Thuốc thảo dược hiện nay đang là một xu hướng mới trong việc điều trị viêm đại tràng mạn tính, bởi nguyên tắc điều trị bằng thuốc thảo dược là tập trung giải quyết tận gốc và triệt để bệnh thông qua việc bồi bổ, điều hòa công năng của tạng tỳ và đại tràng.

Trên thị trường hiện nay đã có thuốc thảo dược được bào chế từ các bài thuốc cổ phương như “Sâm linh bạch truật” hoặc “Hương sa lục quân” với các thành phần: bạch truật, mộc hương, hoàng đằng, hoài sơn, trần bì, hoàng liên, bạch linh, sa nhân, bạch thược, cam thảo, đảng sâm, mật ong. Sự phối hợp của các loại thảo dược này mang lại công dụng làm hết đau nhanh chóng, hết chướng bụng và đầy hơi, cầm đi ngoài, tiêu viêm và bảo vệ niêm mạc ruột, đồng thời giúp cho người bệnh ăn ngon, hấp thu dưỡng chất tốt hơn, tăng cường sức khỏe.





Tâm sen 2 g, cam thảo sống 3 g sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín chừng 15-20 phút. Loại trà này dành cho người bị mất ngủ có đánh trống ngực, lòng bàn tay, bàn chân có cảm giác nóng như có lửa đốt, miệng khô họng khát, niêm mạc miệng viêm loét, tinh thần buồn phiền bất an.

Một số loại trà dược chống mất ngủ khác:

- Toan táo nhân sao thơm, mỗi ngày sau bữa cơm tối lấy chừng 15-30 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau khoảng 15-20 phút thì dùng được, uống thay trà. Có thể hòa thêm một chút đường trắng cho dễ uống. Dùng cho những người bị mất ngủ, thể chất suy nhược, hay vã mồ hôi, trong lòng có cảm giác bồn chồn không yên, hồi hộp trống ngực, giấc ngủ không sâu, mê mộng nhiều.

- Nấm linh chi thái nhỏ, nghiền vụn, mỗi ngày dùng 3 g, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho những người bị mất ngủ có kèm theo tăng huyết áp, bệnh tim, bệnh gan, ho hen, thể chất hư nhược.

- Cành và lá lạc tươi rửa sạch, phơi hoặc sấy khô, mỗi ngày lấy 30 g sắc với 400 ml nước, cô còn một nửa, chế thêm một chút đường phèn, chia uống 2 lần trong ngày, 7 ngày là một liệu trình. Dùng cho những người bị mất ngủ có kèm theo đau đầu, chóng mặt, hay mê mộng, dễ cáu giận, trong lòng bồn chồn không yên, có thể có tăng huyết áp.

- Đăng tâm thảo 5 g, lá tre tươi 30 g. Hai thứ cho vào bình kín, hãm với nước sôi, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Thường dùng cho những người bị mất ngủ do mắc các bệnh có sốt cao khiến cho môi khô miệng khát, tâm thần bất định, mê sảng, bồn chồn không yên, đại tiện táo, tiểu tiện khó.

- Phục thần 100 g, táo nhân 100 g. Hai vị thuốc tán vụn trộn đều, mỗi ngày lấy 50 g cùng với bột chu sa 1 g (gói trong túi vải) hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho người bị mất ngủ do tâm khí bất túc, tim đập nhanh, dễ hồi hộp, trí nhớ giảm sút.

- Ngũ vị tử, kỷ tử và toan táo nhân lượng bằng nhau, sấy khô, tán vụn, trộn đều, mỗi ngày lấy 6 g hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho những người bị mất ngủ sau khi mắc bệnh, đầu choáng mắt hoa, trí nhớ suy giảm, giấc ngủ không sâu, nhiều mộng mị.

- Mỗi ngày lấy 60 g tang thầm (quả dâu chín) và 20 g mật ong hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Dùng cho những người bị mất ngủ có kèm theo thiếu máu, râu tóc sớm bạc, đầu choáng mắt hoa, trí nhớ giảm sút, đại tiện táo kết...


Theo y học cổ truyền, viêm xoang mãn tính là một dạng hư hỏa. Do đó, điều trị viêm xoang không chỉ nhằm giải quyết việc viêm nhiễm tại chỗ mà chủ yếu là phải bổ âm để tàng dương.

TRIỆU CHỨNG

Viêm xoang là tình trạng viêm nhiễm ở một hoặc nhiều khoang rỗng nằm trong khối xương mặt có liên quan chặt chẽ đến hốc mũi. Về mặt bệnh học, người ta phân biệt các xoang làm hai nhóm. Nhóm xoang trước gồm xoang trán, xoang hàm và xoang sàng trước, có các lỗ thông đổ ra khe mũi giữa. Nhóm xoang sau gồm các xoang sàng sau và xoang bướm, có lỗ thông ra khe mũi trên. Mặt trước của xoang bướm còn có hai lỗ nhỏ thông xuống vòm họng.
Bình thường, những chất xuất tiết sinh lý hoặc bệnh lý trong xoang được tháo ra ngoài thông qua lỗ thông mũi xoang. Khi ta bị cảm cúm, các xoang trở nên viêm tắc, phù nề và ngăn trở khả năng thông tháo dịch nhầy ra mũi. Điều này dẫn đến sung huyết mạch máu xoang và nhiễm trùng xoang. Do đó cảm cúm hoặc viêm mũi dị ứng kéo dài nếu không được điều trị thích hợp sẽ dễ dẫn đến viêm xoang, nhất là những trường hợp mũi có cấu tạo bất thường.

Hai dấu hiệu chủ yếu của viêm xoang là đau nhức và tăng tiết dịch mũi. Nhức đầu, căng nặng đầu từng cơn hoặc thường xuyên xảy ra ở vùng xoang bị viêm. Dịch tiết chạy xuống họng hoặc ra mũi. Dịch mũi thường đặc, vàng hoặc xanh, đôi khi có cả máu, chứ không trong và loãng như dịch mũi ở chứng cảm cúm thông thường.

ĐIỀU TRỊ

Việc điều trị viêm xoang mãn tính phải nhằm vào hai yêu cầu: Bổ thận âm và Nạp khí về thận. Đối với những trường hợp viêm xoang cấp, hoặc khi có những triệu chứng sưng nhức khó chịu hay bội nhiễm do phong nhiệt cần giải tỏa gấp, có thể dùng thêm các biện pháp tiêu viêm, tiêu độc hoặc khu phong bài nùng. Tuy nhiên, những phương dược điều trị triệu chứng chỉ là phụ và tạm thời. Bệnh kéo dài chừng nào thì âm hư càng nặng, càng phải chú trọng đến gốc ở thận. Khi sự cân bằng âm dương đã được thiết lập, hỏa sẽ tự yên vị. Mặt khác khi chính khí đã vững, sức đề kháng vươn lên, tà khí sẽ tự lui.

CÁC BÀI THUỐC

Lục vị địa hoàng

Lục vị là một cổ phương căn bản và thông dụng trong y học cổ truyền để bổ Thận âm. Gọi là lục vị vì bài thuốc gồm sáu vị. Để nạp khí về thận, Hải Thượng Lãn Ông thường dùng thêm ba vị: Mạch môn, ngũ vị; Ngưu tất. Mạch môn làm mát phế vị; Ngũ vị liễm phế, cố thận; Ngưu tất giáng khí, dẫn thuốc về thận. Ngoài ra, vì là bệnh lâu ngày nên dùng thêm cao Ban long, là loài huyết nhục hữu tình để tăng hiệu quả. Cao Ban long là một vị thuốc bổ âm mạnh được chế từ sừng hươu nai. Như vậy, một bài thuốc lục vị gia giảm để trị viêm xoang có thể bao gồm:

Thục địa 16g

cao Ban long 8g

hoài sơn 8g

mạch môn 8g

sơn thù 8g

ngũ vị 6g

đơn bì 6g

ngưu tất 8g

trạch tả 4g

bạch phục linh 4g

Lần thứ nhất, đổ ba chén nước, sắc còn một chén. Lần thứ hai, đổ hai chén nước, sắc còn nửa chén. Hòa chung hai lần nước thuốc lại, chia uống hai hoặc ba lần trong ngày. Hâm nóng trước khi uống. Có thể dùng liên tục từ 10-15 thang.

Một số người không tiện "sắc thuốc" thì có thể dùng lục vị hoàn mua sẵn ở thị trường Đông dược. Trường hợp này dùng thêm cao Ban long bằng cách cắt nhỏ nấu cháo hoặc hấp cơm để ăn.

Bổ âm tiếp dương

Ở những người lớn tuổi, viêm xoang thường phối hợp với nhiều chứng bệnh mãn tính khác khiến cơ thể suy nhược, ăn kém, thở yếu, hay mệt..., biểu hiện của cả khí huyết âm dương đều kém. Những trường hợp này nếu bổ khí không khéo có thể làm tăng khí nghịch, nếu bổ âm đơn thuần có thể làm ngưng trệ Tỳ Vị; Mà khi Tỳ Vị đã trệ thì thuốc gì cũng khó được chuyển hóa. Do đó cần sử dụng thêm các vị thuốc cam, ôn như nhân sâm, hoàng kỳ, bạch truật, can khương để tiếp dương xen kẽ với bổ âm. Với cách điều trị này, khi âm đã vượng lên một phần thì dương cũng tiến được nửa phần. Từng bước nâng lên mà vẫn bảo đảm không làm chênh lệch thái quá sự cân bằng giữa âm và dương. Bàn về cách tiếp dương trong bổ âm, Hải Thượng Lãn Ông đã ghi lại một phương thuốc rất có giá trị là "Bổ âm tiếp phương dương".

Thục địa 120g,

bố chính sâm 60g,

bạch truật 40g.

can khương 12g (sao đen tẩm đồng tiện),

bạch thược 20g (sao đen tẩm đồng tiện),

Đây là một thang đại dược, phân lượng lớn, sắc đặc chia làm nhiều lần uống trong ngày. Thục địa là vị chủ lực để bổ âm. Điểm đặc biệt của phương thang bổ âm này là gồm cả Sâm, Khương, Truật để bổ Tỳ Vị bằng cách sao đen và tẩm đồng tiện 2 vị can khương và bạch thược. Cách bào chế này vừa làm dịu sức nóng của can khương, vừa giáng hư hỏa và dẫn thuốc về thận nhằm tiếp dương khí cho Tỳ Vị đủ sức chuyển hóa thục địa, mà lại không kích động hư hỏa.

Với những đợt viêm mũi và viêm xoang cấp tính hoặc viêm mũi phát triển do phong nhiệt, có thể dùng những bài thuốc sau, thiên về khu phong tiêu độc:

Hoàng liên giải độc thang

Hoàng liên 12g, bạc hà 8g, hoàng cầm 12g, hoàng bá 12g, chi tử 4g. Đổ ba chén nước, sắc còn một chén, chia làm hai lần uống trong ngày.

Ma hoàng thương nhĩ tử thang

Ma hoàng 12g,

tân di hoa 8g,

khương hoạt 12g,

thương nhĩ tử 12g,

kinh giới 6g,

phòng phong 12g,

cam thảo 4g.

Đổ ba chén nước, sắc còn một chén, chia làm hai lần uống trong ngày.

Thanh không cao

Khương hoạt 12g,

xuyên khung 4g,

phòng phong 12g,

bạc hà 4g,

hoàng cầm 8g,

cam thảo 6g,

hoàng liên 4g.

Đổ 3 chén nước, sắc còn một chén, chia làm hai lần uống trong ngày.

Điều trị không dùng thuốc
Có không ít trường hợp viêm xoang dai dẳng nhiều năm, tái đi tái lại sau nhiều lần điều trị khiến người bệnh nghĩ mình sẽ phải sống chung với bệnh suốt đời. Sau đó, vì những lý do khác nhau (chẳng hạn để điều trị một bệnh khác hoặc để tăng cường sức khỏe), người bệnh gia nhập một nhóm tập dưỡng sinh. Điều không ngờ là sau vài tháng, người bệnh chợt nhận ra những triệu chứng khó chịu của viêm xoang đã tự biến mất. Kết quả này không có gì lạ nếu ta hiểu rằng, tất cả những phương pháp dưỡng sinh, ngoài tác dụng nâng cao thể trạng, tăng cường sức đề kháng - thì hiệu ứng sớm nhất, trực tiếp nhất mà người tập đạt được là sự thư giãn, an tĩnh. Y học hiện đại cho rằng sự an tĩnh có thể điều hòa được thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh vốn có của hệ thần kinh trung ương, qua đó điều hòa nội tiết và cải thiện hoạt động của cơ quan. Điều hòa thần kinh giao cảm cũng có vai trò cân bằng hai yếu tố âm và dương trong cơ thể. Hơn nữa, theo quy luật "Thần tĩnh tất âm sinh", sự thư giãn và nhập tĩnh có tác dụng sinh âm và bổ âm. Ngoài ra, hầu hết các bài tập dưỡng sinh từ tư thế, động tác đến ý thức như thượng hư hạ thực, hư kỳ tâm thực kỳ phúc… giúp cứng chắc phần hạ bộ, buông lỏng phần vai, mang trung tâm lực của cơ thể dồn xuống hạ tiêu đều nhằm làm cho khí trầm Đan điền, chính là yêu cầu dẫn hỏa quy nguyên hoặc nạp khí về Thận để trừ hư Hỏa trong việc điều trị viêm xoang. Do đó, việc kiên trì tập luyện đúng phương pháp các bài tập dưỡng sinh, thái cực quyền, khí công, ngồi thiền… cũng là những cách điều trị hiệu quả đối với bệnh viêm xoang mãn tính.



 Mất ngủ là không ngủ được, nhẹ thì muốn ngủ nhưng khó, hoặc ngủ không sâu, khi thức khi tỉnh, có thể mất ngủ lúc mới vào giấc, nằm trằn trọc mãi không ngủ được rồi thiếp đi, có thể giữa giấc thức rồi không ngủ lại được, có thể cuối giấc dậy quá sớm không ngủ lại được. Nặng thì cả đêm không ngủ, Y học cổ truyền gọi là “Thất Miên”.



Mất ngủ thường kèm thêm các triệu chứng khác như chóng mặt, đau đầu, hồi hộp hay quên. Phần nhiều do chức năng thần kinh.

Nguyên nhân bệnh lý:

Do lo nghĩ quá độ và lam lũ công việc nhiều, Y học cổ truyền cho rằng lo nghĩ quá độ làm hại đến Tỳ (Sách loại chứng trị tài nói: Lo nghĩ hại tỳ quanh năm mất ngủ). Tỳ có công năng vận hóa đồ ăn thức uống, Tỳ hư không sinh đủ Huyết, Huyết không dưỡng được tâm nên gây mất ngủ.

Do cơ thể suy yếu hoặc bị ốm lâu, thận âm hao tổn, không nuôi dưỡng được Tâm, Tâm hỏa khô nóng thần chí không yên gây nên Mất ngủ. (Sách cổ kim y thống nói: Do thận thủy thiếu, chân âm không thăng mà tâm khô nóng làm cho mất ngủ).

Do ăn uống không điều độ, thức ăn đình trệ ở tràng vị. lâu ngày thành đờm nhiệt, trở ngại bên trong, đờm nhiệt nhiễu loạn ở bên trên nên nằm không yên. (Sách Trương thị y thông nói: Mạch hoạt sác hữu lực là mất ngủ, bên trong có đờm hỏa ứ trệ).

Ngoài ra còn có trường hợp bị kinh động bất ngờ, sợ hãi lo lắng quá, gây nhiễu loạn tâm thần, sợ sệt không yên, nằm ngủ là mơ, hay kinh sợ cũng là nguyên nhân gây mất ngủ.

Dưới đây là các loại thể bệnh mất ngủ trên thực tế lâm sàng thường gặp:

1. Mất ngủ thể tâm tỳ lưỡng hư:

Triệu chứng:

Mất ngủ, ngủ hay mê, nhanh tỉnh. Hồi hộp, trống ngực.

Hay quên. Chóng mặt. Sắc mặt vàng nhợt, mệt mỏi

Chán ăn, ăn không biết ngon. Tứ chi tê mỏi, bủn rủn.

Chất lưỡt đạm nhạt, sắc mặc sạm. Mạch tế nhược.

Phân tích:

Do Lo nghĩ quá độ ảnh hưởng đến tỳ hoặc do ăn uống quá độ hoặc dinh dưỡng không đủ tinh hậu thiên bất túc, nguồn sinh hóa khí huyết suy kiệt không nuôi dưỡng được tâm. Tâm tàng thần, thống nhiếp huyết mạch nên tâm huyết hư gây mất ngủ, mơ nhiều nhanh tỉnh, chóng mặt hay quên, hồi hộp trống ngực. Tỳ tàng ý, sinh ra huyết, vinh nhuận ra mặt, chủ cơ nhục, tỳ hư nên sắc mặt vàng nhợt mệt mỏi, chán ăn, tứ chi tê nặng, chất lưỡi đạm nhạt, mạch nhược. Nguồn sinh hóa thiếu, khú huyết suy, tinh thần mệt mỏi.

Chẩn đoán:

Bát cương: Lý hư hàn

Tạng phủ: Tâm tỳ

Nguyên nhân: Nội nhân, bất nội ngoại nhân

Bệnh danh: Thất miên

Pháp điều trị: dưỡng tâm, kiện tỳ để sinh khí huyết, an thần.

Phương dược: Quy tỳ thang gia giảm nếu công hiệu kém dùng kèm với bài Dưỡng Tâm thang.

Cổ phương: Quy tỳ thang.

Đảng sâm 15 Phục thần: 12

Bạch truật 15 Camthảo: 06

Hoàng kỳ 15 Đương quy: 15

Táo nhân 12 Viễn chí: 06

Mộc hương 10 Long nhãn: 12

Đại táo 12 Sinh khương: 3 lát

Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần, uống trước ăn 30 phút. Có thể tán bột 10 vị thuốc ở trên, trộn với mật làm hoàn, mỗi viên 50g. uống 4 viên/ngày, chia làm 2 lần.

Phân tích bài thuốc và gia giảm:


Trong bài hoàng kỳ, bạch truật, cam thảo, sinh khương, đại táo để bổ tỳ ích khí. Đương quy để dưỡng tâm an thần, viễn chí làm tâm thận giao nhau để định chí an thần. Mộc hương để lý khí tỉnh tỳ. Có thể thêm ngũ vị tử, bá tử nhân để dưỡng tâm an thần. Nếu giấc mơ kinh sợ gia Long xỉ, Từ thạch để trấn kinh an thần. Nếu hồi hộp, mơ nhiều, buồn mệt hợp với bài Toan tháo nhân thang.

Thuốc nam:

Rễ vú bò 15 Hoài sơn 12

Bạch truật 12 Lạc tiên 12

Long nhãn 12 Vông nem 12

Kê huyết đằng12 Hạt sen 08

Lá dâu non 12 Ý dĩ 12

Sắc uống ngày 1 thang. Cách sắc: cho một lượng nước vừa ngập mặt thuốc, đun sôi 15 – 20 phút, uống trong ngày.

Châm cứu:

Châm bổ nội quan, thần môn, thái bạch, tâm du, tỳ du, tam âm giao, túc tam lý. Thời gian: 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.

Nhĩ châm: tâm, tỳ, thần môn, vùng dưới vỏ. Thời gian: 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.

Khí công - dưỡng sinh: tập các bài luyện ý, luyện thở. Thời gian tập tối đa: 20 phút/lần x 1 – 2 lần/ngày.

2. Mất ngủ thể tâm huyết hư

Triệu chứng:

Mất ngủ. Hồi hộp, trống ngực, ngũ tâm phiền nhiệt lòng bàn tay bàn chân nóng, buồn bực

Hoa mắt chóng mặt. Hay quên. Miệng khát khô, có khi mộng tinh, hay quên, sợ sệt

Chất lưỡi đỏ, ít rêu. Mạch tế sác.

Phân tích:

Mất ngủ là do khí huyết hư tổn, cơ nhục khô héo, dưỡng khí không thông, khí của ngũ tạng đảo lộn, âm huyết suy yếu; Hoặc lo nghĩ quá độ lâu ngày hại tỳ. tâm là nơi chứa thần, thống nhiếp huyết mạch; tỳ là nơi chứa ý và sinh ra huyết. Huyết hư gây hoa mắt chóng mặt, không nuôi dưỡng được não nên mất ngủ, hay quên. huyết thuộc âm, tâm huyết hư gây hồi hộp, trống ngực, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khát, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch tế sác.

Chẩn đoán:

Bát cương: lý hư nhiệt

Tạng phủ: tâm

Nguyên nhân: Nội nhân

Bệnh danh: Thất miên

Pháp điều trị: Dưỡng tâm, an thần.

Phương dược:

Cổ phương: Thiên vương bổ tâm đan.

Nhân sâm 10 Đương quy 15g

Huyền sâm 10g Thiên môn 15g

Đan sâm 15g Mạch môn 15g

Bạch linh 10 Bá tử nhân 15g

Ngũ vị tử 12g Táo nhân 15g

Viễn chí 08g Sinh địa 10g

Cát cánh 10g

Các vị thuốc tán bột mịn, làm viên hoàn bằng hạt ngô, lấy thần sa làm áo, uống 12 – 16g/lần x 2 lần/ngày, uống lúc đói. Nếu dùng thang sắc thì uống 1 thang/ngày; sau khi sắc được nước thuốc, khi thuốc còn nóng, hòa thần sa 6g vào cho tan rồi uống. Kỵ tỏi, la bạc tử, ngư tinh thảo, rượu cao lương.

Phân tích bài thuốc và gia giảm:

Trong bài sinh địa để bổ âm, dưỡng huyết, huyền sâm, thiên mạch môn để tư âm thanh hư nhiệt, đan sâm, đương quy để bổ dưỡng huyết. Sâm linh để ích khí ninh tâm. Toan táo nhân, ngũ vị tử để thu liễm tâm khí an tâm thần. Bá tử nhân, viễn chí, chu sa để dưỡng tâm an thần. Phương này chủ yếu để tư âm dưỡng huyết ích khí ninh tâm và liễm tâm khí dưỡng tâm an thần. Gia thêm Hoàng liên để tả Tâm hỏa, Trân châu mẫu để bình Can dương. Và dùng kèm với Chu sa an thần hoàn uống trước khi đi ngủ. Nếu tâm hỏa vượng dùng bài Dạ giao đằng hoàn.

Thuốc nam:

Tâm sen 10g Lạc tiên 12g

Vông nem 12g Hà thủ ô 12g

Bá tử nhân 12g Long nhãn 10g

Sắc uống ngày 1 thang. Cách sắc: cho một lượng nước vừa ngập mặt thuốc, đun sôi 15 – 20 phút, uống trong ngày.

Châm cứu:

Châm bổ nội quan, thần môn, cách du, tâm du, tam âm giao, trung đô. Thời gian: 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.

Nhĩ châm: tâm, thần môn, vùng dưới vỏ. Thời gian: 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.

Khí công - dưỡng sinh: tập các bài luyện ý, luyện thở. Thời gian tập tối đa: 20 phút/lần x 1 – 2 lần/ngày.

3. Mất ngủ thể tâm đởm khí hư



Triệu chứng

Mất ngủ, ngủ hay mê, dễ tỉnh giấc

Cảm giác sợ hãi, nhút nhát gặp việc thì lo lắng sợ sệt, hay giật mình. Hồi hộp, trống ngực

Sắc mặt nhợt. Chất lưỡt nhạt. Mạch huyền tế.

Phân tích:

Do khí huyết hư tổn, cơ nhục khô héo, hoặc lo nghĩ, ăn uống quá độ tổn thương tỳ. Tỳ hư sinh đàm thấp, đàm tụ ở đởm kinh, quẫy nhiễu thần minh, thần không yên mà không ngủ, ngủ hay mê, dễ tỉnh giấc. Đởm chủ hào hùng quyết đoán, tâm đởm khí hư nên cảm giác sợ hãi, hay giật mình, hồi hộp trống ngực, sắc mặt nhợt, mạch huyền tế.

Chẩn đoán:

Bát cương: Lý hư hàn

Tạng phủ: Tâm đởm

Nguyên nhân: Nội thương, bất nội ngoại nhân

Bệnh danh: thất miên.

Pháp điều trị: ích khí trấn kinh, an thần định chí.

Phương dược:

Cổ phương: An thần định chí hoàn gia giảm.

Phục linh 15g Viễn chí 12g

Nhân sâm 15g Thạch xương bồ 06g

Long xỉ 12g Táo nhân sao đen 12g

Phục thần 15g Mẫu lệ 12g

Dạ giao đằng12g

Tất cả các vị thuốc sấy khô, tán bột mịn, làm hoàn với mật ong, uống 12 – 16g/lần x 2 lần ngày. Có thể dùng thang, sắc uống 1 thang/ngày, chia 2 lần.

Thuốc nam:

Bình vôi 20g Táo nhân sao đen 12g

Thạch quyết minh 12g Thảo quyết minh sao đen 12g

Lạc tiên 12g Vông nem 12g

Liên nhục 12g Đan sâm 12g

Sắc uống ngày 1 thang. Cách sắc: cho một lượng nước vừa ngập mặt thuốc, đun sôi 15 – 20 phút, uống trong ngày.

Châm cứu:

- Châm bổ nội quan, thần môn, tâm du, can du, cách du, đởm du, thái xung, tam âm giao. Thời gian: 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.

- Nhĩ châm: tâm, đởm, thần môn, vùng dưới vỏ. Thời gian: 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.

Khí công - dưỡng sinh: tập các bài luyện ý, luyện thở. Thời gian tập tối đa: 20 phút/lần x 1 – 2 lần/ngày.

4. Mất ngủ thể thận âm hư

Triệu chứng:

Mất ngủ, ngủ hay mê, hay quên. Hoa mắt chóng mặt, ù tai

Lưng gối đau mỏi. Di tinh, mộng tinh

Đại tiện phân táo

Chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng. Mạch trầm nhược.

Phân tích:

Do thiên quý kiệt, Thận âm hư không tiềm được dương, không chế được hỏa, gây chứng tâm thận bất giao mà có các chứng trạng hoa mắt chóng mặt, ù tai, lưng gối đau mỏi, di tinh, mộng tinh; hoặc thận tinh hư tổn, không sinh tủy, từ đó không nuôi dưỡng được não, làm cho não tủy thất dưỡng mà gây chứng mất ngủ, ngủ hay mê, hay quên. Thận âm hư nội nhiệt nên đại tiện phân táo, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch trầm nhược

Chẩn đoán:

Bát cương: Lý hư nhiệt

Tạng phủ: Thận âm

Nguyên nhân: nội thương

Bệnh danh: Thất miên

Pháp điều trị: tư bổ thận âm, giao thông tâm thận.

Phương dược:

Cổ phương: Lục vị địa hoàng hoàn hợp Giao thái hoàn.

Thục địa 320g Hoài sơn 160g

Sơn thù 160g Trạch tả 120g

Bạch linh 120g Đan bì 120g

Hoàng liên 120g Nhục quế 40g

Tất cả tán bột mịn, luyện mật làm hoàn, uống 8 – 12g/lần x 2 – 3 lần/ngày với nước sôi để nguội hoặc nước muối nhạt. Ngoài ra có thể làm thang với liều lượng thích hợp, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 lần.

Thuốc nam:

Đỗ đen sao chín 15g Vừng đen sao chín 10g

Lạc tiên 12g Dây hà thủ ô 12g

Lá vông non 12g Vỏ núc nác sao rượu 08g

Lá dâu non 12g Thảo quyết minh sao đen 12g

Sắc uống ngày 1 thang. Cách sắc: cho một lượng nước vừa ngập mặt thuốc, đun sôi 15 – 20 phút, uống trong ngày.

Châm cứu:

Châm bổ thái khê, thận du, nội quan, thần môn, tam âm giao. Thời gian: 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.

Nhĩ châm: tâm, thận, thần môn, vùng dưới vỏ. Thời gian: 20 – 30 phút/lần x 1 lần/ngày.

Mất ngủ ngoài các phương pháp điều trị ở trên cần kết hợp ăn kiêng các thứ kích thích cay nóng, cần thư thái tin thần, mỗi ngày cần vận động tập thể dục nhẹ nhàng một vài.

Tóm lại:

Mất ngủ thể tâm tỳ lưỡng hư: bài thuốc thường dùng: Quy tỳ thang

Mất ngủ thể tâm huyết hư: bài thuốc thường dùng: Thiên vương bổ tâm đan

Mất ngủ thể tâm đởm khí hư: bài thuốc thường dùng: An thần định chí hoàn

Mất ngủ thể thận âm hư: bài thuốc: Lục vị địa hoàng hoàn hợp Giao thái hoàn.

       >>> Trà Dược An Thần <<<











Sunday, July 10, 2016


THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM TRONG ĐÔNG Y
Theo Đông Y trong ngũ thể (khí, huyết, gân, cơ, xương) thì đĩa đệm thuộc về gân, do can huyết sinh ra và nuôi dưỡng (Can sinh cân), một khi can huyết không đầy đủ thì đĩa đệm sẽ bị suy yếu, nhân đó khí trệ huyết ứ, ngoại tà xâm nhập,làm cho đĩa đệm mất sự đàn hồi, dễ biến dạng, thoát vị. Điều trị chỉ cần bổ can huyết để nuôi gân thì đĩa đệm sẽ dần dần phục hồi.

Đại cương:

Thuộc phạm vi chứng Yêu Thống, Yêu Chuỳ Thống, Yêu Thống Liên Tất.

Nguyên Nhân gây thoát vị đĩa đện trong Đông Y

Do chấn thương.

Do cảm phong, hàn, thấp, nhiệt.

Do tuổi già.

Do lao động quá sức.

Do sinh hoạt tình dục không điều độ.

Ảnh hưởng của bệnh mạn tính.

Ngoại tà như phong, hàn, thấp, nhiệt bên ngoài xâm nhập vào làm cho kinh mạch ở vùng bị ngăn trở gây nên đau. Cũng có thể do tuổi già, suy yếu, lao động quá sức, sinh hoạt tình dục quá mức khiến cho các lạc mạch ở vùng lưng không được nuôi dưỡng, các đĩa đệm dần dần bị khô, cứng sẽ gây nên đau. Vùng lưng liên hệ đến Thận, nếu Thận suy yếu sẽ gây nên đau.

Khí và huyết nếu không vận hành được sẽ khiến cho huyết bị ngưng trệ cũng gây nên đau. Chấn thương do tẽ ngã… làm cho huyết bị ứ lại, ảnh hưởng đến các kinh mạch, lạc mạch ở vùng lưng cũng gây nên đau.

Chữa bệnh thoát vị đĩa đệm bằng Đông Y

Thoát vị đĩa đệm Thể Hàn Thấp:

Triệu chứng: Đau ở vùng lưng, có cảm giác nặng ở lưng dưới, hoặc có cảm giác như ngồi vào chậu nước đá lạnh hoặc như có vật gì nặng đè vào lưng, tay chân lạnh, tay chân không có sức, ấn vào đau hơn, gặp lạnh hoặc thời tiết âm u thì đau tăng, chườm ấm nóng thì giảm đau, tiểu nhiều, nước tiểu trong, lưỡi nhạt, rêu lưỡi nhờn, mạch Trầm, Tế.

Pháp: Ôn kinh, tán hàn, trừ thấp, chỉ thống.

Bài thuốc: Phụ Tử Ma Hoàng Quế Chi Thang gia vị:



 Tế tân           3

Xuyên ô

9

Phụ tử

9

Quế chi

9

Độc hoạt

9

Cát căn

9

Can khương

9

Ma hoàng

6

cam thảo

6

 








Thận hư thêm Tang ký sinh, Tục đoạn đều 9g. Cảm thấy nặng ở vùng lưng dưới thêm Thương truật 9g. Tỳ hư thêm Bạch truật, Phục linh đều 12g. Huyết ứ thêm Xích thược 9g, Nhũ hương, Một dược đều 9g. Nếu do phong hàn gây đau lan xuống gối hoặc lan qua hông sườn thêm Khương hoạt và Phòng phong.

Thoát vị đĩa đệm Thể Phong Thấp:

Triệu chứng: lưng đau trên dưới không nhất định nhưng thay đổi. Vùng lưng đau thường kèm nặng và chuyển xuống dưới các ngón chân, kèm mất cảm giác, thay đổi theo thời tiết, sợ gió, sợ lạnh, cơ thể nặng nề, lưỡi trắng nhạt, rêu lưỡi vàng, mạch Phù, Tế, Huyền.

Pháp: khu phong, hoá thấp, thông kinh hoạt lạc.

Bài thuốc: Độc Hoạt Ký Sinh Thang





Tang kí sinh

18

Thạch chi

15

Đương qui

12

Đẳng sâm

12

Phục linh

12

Tần giao

12

Đỗ trọng

12

Phòng phong

9

Độc hoạt

9

Xuyên khung

9

Bạch thược

9

Ngưu tất

9

Tế tân

3

Nhục quế

3

Cam thảo

3

 Có cảm giác nặng, thêm Thương truật, Uy linh tiên đều 9g; Cử động khó khăn thêm Lạc thạch đằng, Hải phong đằng đều 9g; Thận hư nạng thêm Câu kỷ, Tục đoạn đều 9g; Tỳ hư thêm Bạch truật 12g; Huyết ứ thêm Xích thược 9g, Nhũ hương, Một dược đều 6g.

Thoát vị đĩa đệm Thể Thấp Nhiệt:

Triệu chứng: Thắt lưng luôn đau kèm cảm giác nóng, thắt lưng sưng, nặng, không thể cuí về phía trước hoặc ngả ra sau được, bứt rứt, ra mồ hôi, khát, tiểu ít, nước tiểu vàng đậm, tiểu buốt, táo bón, rêu lưỡi vàng nhờn, mạch Sác, Hoạt hoặc Nhu Hoạt.

Pháp: Thanh nhiệt, hoá thấp, chỉ thống.

Bài thuốc: Tứ Diệu Hoàn Gia Vị





Ý dĩ

30

Xương truật

12

Ngưu tất

12

Tần giao

9

Hoàng bá

9









 
Nặng nề vùng lưng thêm Hán phòng kỷ, Mộc qua đều 9g. Nếu khát, nước tiểu vàng thêm Liên kiều, Chi tử đều 9g, Mộc thông 3g. Âm hư, họng khô, miệng khô, khó chịu về đêm, thắt lưng mỏi, ngũ tâm phiền nhiệt, thêm Thục địa 12g, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo đều 9g. Cử động khó khăn thêm Lạc thạch đằng, Hải phong đằng đều 9g. Thận hư nặng, thêm Câu kỷ, Tục đoạn đều 9g. Tỳ hư thêm Bạch truật, Phục linh đều 12g. Huyết ứ thêm Xích thược 9g, Nhũ hương, Một dược đều 6g.

Thoát vị đĩa đệm Thể Thận Hư:

Triệu chứng: Vùng thắt lưng đau ê ẩm, bước đi làm như không có sức, đứng lâu chân như muốn khuỵ xuống, khi mệt mỏi thì khó chịu hơn, nằm hoặc nghỉ ngơi, xoa bóp thì dễ chịu hơn, ngũ tâm phiền nhiệt, sốt về chiều, mồ hôi trộm, họng khô, lưỡi đỏ, mạch Tế Sác.

Pháp: Bổ Thận, tư âm, giáng hoả, thông kinh hoạt lạc.

Bài thuốc: Tả Quy Hoàn gia giảm





Thục địa

12

Đỗ trọng

12

Hoài sơn

9

Sơn thù

9

Kỉ tử

9

Ngưu tất

9

Thỏ ti tử

9

Tang kí sinh

9

Cao ban long

6

Cao qui bản

6





Chóng mặt, ù tai, hồi hộp, mất ngủ thêm Thạch quyết minh 12g, Long cốt, Mẫu lệ. Tâm hư miệng và họng khô, ra mồ hôi trộm, thêm Hoàng bá, Tri mẫu đều 9g. Cử động khó khăn thêm Ty qua lạc, Lạc thạch đằng đều 9g. Khí trệ, huyết ứ thêm Nhũ hương, Một dược đều 6g. Kèm đờm thấp, thêm Tần giao, Khương hoạt đều 12g. Tỳ hư thêm Bạch truật, Phục linh đều 12g.

Thoát vị đĩa đệm Thận Dương Hư:
Triệu chứng:  Lưng đau ê ẩm, nghỉ ngơi hoặc nằm, xoa bóp, chườm ấm thì đỡ hơn, lưng tê, mất cảm giác, đi hoặc đứng chân như không còn sức, chân tay lạnh, sợ lạnh, lưng lạnh, hơi thở ngắn, da mặt xanh xám, nước tiểu trong, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch Trầm Tế, không lực.

Pháp: Bổ Thận, tráng dương, ôn kinh, tán hàn.

Bài thuốc: Hữu Quy Hoàn gia giảm





Thục địa

12

Đỗ trọng

9

Thỏ ti tử

9

Tục đoạn

9

Cao ban long

9

Hoài sơn

9

Kỉ tử

9

Cẩu tích

9

Sơn thù

9

Đương qui

8

Phụ tử

3

Trung khí hạ hãm và cảm giác âm ỉ ở vùng đau, bỏ Câu kỷ tử, Đương quy, thêm Hoàng kỳ 12g, Đảng sâm, Bạch truật đều 9g, Sài hồ, Thăng ma đều 3g. Khí trệ, huyết ứ, thêm Nhũ hương, Một dược đều 6g, tăng Đương quy lên 9g. Có dấu hiệu hàn thấp, thêm Tần giao, Độc hoạt, Khương hoạt đều 9g. Tỳ hư thêm Bạch truật, Phục linh đều 12g.

Thoát vị đĩa đệm Khí Trệ Huyết Ứ:

Triệu chứng: Đau chói vùng lưng và chân, đau cố định một chỗ, ngày nhẹ, đêm nặng. Ấn vào cột sống nhiều khi đau không chịu nổi. Có khi đau lan xuống chân, làm cho chân mất cảm giác, di chuyển khó, táo bón, lưỡi đỏ tím hoặc có vết ban đỏ, mạch Trầm, Sáp, Huyền.

Pháp: Hành khí, hoạt huyết, khứ ứ, thông kinh hoạt lạc, chỉ thống.

Bài thuốc: Thân Thống Trục Ứ Thang gia giảm



 Cam thảo     3

Tục đoạn

12

Cốt toái bổ

9

Xuyên khung

9

Đào nhân

9

Hồng hoa

9

Khương hoạt

9

Nhũ hương

9

Đương qui

9

Ngưu tất

9

Địa long

9

Tần giao

9

Xương bồ

6













Khí trệ, huyết ứ do phong thấp, thêm Độc hoạt, Uy linh tiên, Phòng phong đều 9g; Do chấn thương thêm Tam thất 3g, Tô mộc 9g hoặc Vân Nam Bạch Dược.

Thắt lưng đau kèm kinh nguyệt không đều, thay bài Thân Thống Trục Ứ Thang bằng bài Đào Hồng Tứ Vật Thang gia giảm: Tục đoạn, Đương ưuy, Xuyên khung, đều 12g, Đào nhân, Hồng hoa, Thục địa, Bạch thược, Hương phụ đều 9g, Sài hồ 6g. Thận hư thêm Ngũ gia bì 15g, Tang ký sinh, Cẩu tích đều 9g. Tỳ hư thêm Bạch truật, Phục linh đều 12g. Chi dưới tê, mất cảm giác thêm Thổ miết trùng, Ô tiêu xà đều 6g, Ngô công 3g.

Một số vị thuốc có hiệu quả cao đối với cột sống, đặc biệt đối với trường hợp thoái vị là:

Cẩu tích: có tác dụng rất cao trong trường hợp Thận dương hư.

Tang ký sinh: Thận âm hư.

Đỗ trọng: Thận âm và Thận dương hư, các trường hợp Hàn, nhiệt đều dùng được.

Tần giao: dùng trong trường hợp do phong thấp, Tâm hư






Theo Y học Cổ truyền:
YHCT thường mô tả viêm đa khớp dạng thấp trong phạm trù “ Tý chứng”.
3.1. Biện chứng phương trị.
 Quá trình bệnh lý kéo dài ngoan cố. Bệnh thời kỳ đầu lấy công tà là chủ; thời kỳ giữa đa phần chính khí hư dần, tà khí sẽ thịnh nên phải kiêm trị phù chính - trừ tà; thời kỳ cuối, bệnh phát lâu ngày nêú 3 tạng (can, thận, tỳ) đại hư; tà khí suy dần nên lấy phù chính là chủ (bổ ích can tỳ thận).
3.1.1. Phong hàn thấp tý.
 - Thời kỳ đầu thường đau từ 1 khớp đến nhiều khớp, đau cục bộ, không sốt, không đỏ, chỉ gặp lạnh thì đau tăng, gặp nóng thì đau giảm; thường biến đổi theo thời tiết (thiên khí biến hóa) mà đau nặng hay nhẹ. Lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng; mạch trầm huyền hoặc trầm khẩn.
- Pháp điều trị: trừ phong trục thấp - ôn kinh tán hàn.
- Phương thuốc: “ôn kinh quyên tý thang”.
Đương qui   20g  Dâm dương hoắc 15g
Quế chi  15g Cam thảo   5g
Khương bán hạ 15g  Ô tiêu xà  10g
Chế xuyên ô   10g  Địa miết trùng 10g
Phong lịch  10g Lộc hành thảo  10g.
  Nếu đau di chuyển bất định là hành tý, phải thì gia thêm: thảo cốt phong, khương hoạt, độc hoạt.
  Nếu khớp chi thể nặng, phù thũng là trước tý nặng thì phải gia thêm: thương truật, sinh ý dĩ nhân, sao bạch giới tử...
   Nếu bệnh nhân thích nóng, sợ lạnh, gặp nhiệt đỡ đau, gặp hàn đau nặng là thể hàn tý thì phải thêm: phụ tử chế, ngô công, toàn yết...
   Nếu đau khớp nặng, nhức như kim châm, như cắn gọi là thống tý thì phải gia thêm: tam thất, một dược, diên hồ sách, đào nhân, hồng hoa, kê huyết đằng để hoạt huyết - hóa ứ.
3.1.2. Tý lâu ngày hóa nhiệt thương âm.

 Các khớp sưng, nóng, đỏ, đau; cứng khớp. Mới đầu gặp lạnh đau giảm, nếu lạnh lâu không có cảm giác thích, gặp nóng lại đỡ. Miệng khô mà đắng, mất ngủ, phiền táo; lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc vàng nhờn; mạch huyền tế sác.
- Phương trị: tán hàn trừ thấp - thanh nhiệt thông lạc.
- Phương thuốc: “quế chi thược dược tri mẫu thang” gia giảm.
Quế chi   30g  Xích thược  20g
Bạch thược   20g Tri mẫu  15g
Chế xuyên ô 15g Chế thảo ô  15g
Ô tiêu xà  15g  Sinh địa  10g
Đương qui  15g Cương tàm  10g
Địa long  10g  Cam thảo  10g.
- Gia giảm: nếu nhiệt thắng thì giảm bớt:quế chi, xuyên ô, thảo ô; mà gia thêm: hổ trượng, hoàng bá để bài thủy thạch. Nếu âm hư nội nhiệt, đại tiện táo kết nặng dùng thêm sinh địa 30 - 40g.
3.1.3. Can thận hao tổn, tỳ hư tà suy.
 Chi thể cơ nhục teo nhẽo, các khớp cứng biến dạng đau nhức liên tục không giảm, đau nặng gây mất ngủ kéo dài, ngày nhẹ đêm nặng, hình thể gầy gò, mặt vàng bủng (nhợt), mệt mỏi thiểu lực, lưng gối mỏi đau, đầu choáng, tai ù, ăn kém (nạp ngại), tiện nát, khí đoản, lưỡi nhợt, rêu trắng; mạch trầm tế hơi huyền.
- Pháp điều trị: bồi nguyên - ích thể - quyên tý- thông lạc.
- Phương thuốc: “ích thận quyên tý hoàn”.
Sinh địa  20g  Thục địa  20g
Đương qui   20g Kê huyết đằng  20g
Dâm dương hoắc  20g  Ô tiêu xà  10g
Nhục thung dung 20g  Lộc hành thảo  10g
Cương tàm   10g Địa miết trùng  10g  
Thảo cốt phong 10g  Hổ trượng  10g
Chi trường noãn  10g  Chích ngô công  10g  
Khương lang   10g Chích toàn yết  10g.
- Gia giảm:

Nếu thiên về hư thìgia thêm: hoàng kỳ, đẳng sâm.
Thêm dương hư thì gia thêm: cốt toái bổ, bổ cốt chi.
Huyết hư thì gia thêm: đương qui, kê huyết đằng, kỷ tử, a giao.
Thiên âm hư thì gia thêm: thạch hộc, mạch đông, thiên môn đông, qui bản, miết giáp.
Nếu khí trệ huyết ứ thì gia thêm: đào nhân, hồng hoa.
Hiện nay, phương thuốc trên đã được phổ cập. Sau điều trị, các chỉ tiêu sinh hoá, huyết học, miễn dich đều được cải thiện rõ rệt; các khớp giảm viêm; chức năng khớp cùng với chức năng can, thận đều được cải thiện tốt.
3.2. Các phương pháp điều trị khác.
 +Điện châm các huyệt:
-Chi trên: khúc trì, thiếu hải, nội quan, hợp cốc, thần môn, ngoại quan, kiên ngung, kiên trinh, kiên tỉnh, khúc trạch, đại lăng, dương trì.
-Chi dưới: hoàn khiêu, trật biên, thừa phù, bát liêu, yêu du, bạch hoàn du, ân môn, ủy trung, tất dương quan, độc tỵ, tất nhãn, túc tam lý, dương lăng tuyền, huyền chung, giải khê, thái xung.
Thường được chỉ định chọn huyệt tương ứng với vị trí thống điểm (điểm đau - á thị huyệt), chia làm 2 nhóm luân lưu, cách ngày một lần. Nếu có đợt tiến triển cấp, có thể châm hàng ngày, thậm chí có thể 3 giờ châm một lần (thay thế cho thuốc giảm đau; từ 7 - 10 ngày là một liệu trình; 3 - 4 liệu trình là một đợt điều trị.




A. Bệnh danh theo YHCT:
 Triệu chứng bệnh lý của viêm khớp dạng thấp theo YHHĐ nêu trên cũng được mô tả trong phạm vi các bệnh chứng của YHCT như:
- Chứng tý: Tam tý, Ngũ tý, Chu tý.
- Lịch tiết phong, hạc tất phong.
 Chứng tý là một trong những chứng chủ yếu của YHCT, Tý đồng âm với Bí, tức bế tắc lại không thông. Tý vừa được dùng để diễn tả biểu hiện của bệnh như là tình trạng đau, tê, mỏi, nặng, sưng, nhức, buốt … ở da thịt, khớp xương, vừa được dùng để diễn tả tình trạng bệnh sinh là sự bế tắc không thông của kinh lạc, khí huyết.
B. Nguyên nhân và bệnh sinh:
 Chủ yếu là do 2 nhóm nguyên nhân Ngoại cảm và Nội thương.
- Nhóm Ngoại cảm đơn thuần do 3 thứ tà khí Phong, Hàn, Thấp lẫn lộn đến xâm nhập vào cơ thể. Các tà khí này gây rối loạn sự vận hành khí huyết, làm cho khí huyết bế tắc, lưu thông không điều hòa mà sinh bệnh. Các tà khí này lại bị tắc lưu lại ở kinh lạc hoặc tạng phủ gây sưng, đau, nhức, tê buồn, nặng, mỏi ở một vùng cơ thể hay các khớp xương.

- Nhóm Ngoại cảm phối hợp với Nội thương gây bệnh: Điều kiện để 3 khí tà Phong, Hàn, Thấp gây bệnh được là cơ thể có Vệ khí suy yếu, hoặc có sẵn Khí huyết hư, hoặc tuổi già có Can thận hư suy.
 Ngoài ra, điều kiện thuận lợi để 3 tà khí xâm nhập gây bệnh cho cả 2 thể loại trên là sống và làm việc trong môi trường ẩm thấp, ngâm tẩm thường xuyên dưới nước, ăn uống thiếu chất dinh dưỡng, làm việc mệt nhọc lại bị mưa rét thường xuyên.
C. Dự hậu và tiên lượng:
 Nguyên nhân gây ra các chứng nêu trên đều do 3 tà khí Phong, Hàn, Thấp. Trời có 6 thứ khí, mà bệnh lý khớp xương đã bị 3 thứ khí làm bệnh, tất nhiên là bệnh nan trị, vì Phong thì đi nhanh, Hàn thì vào sâu, mà Thấp thì ướt đẫm và ứ đọng.
- Tà khí còn ở ngoài bì phu thì bệnh còn nhẹ, dễ phát tán, thuộc phần dễ trị.
- Tà khí đã thâm nhập vào nội tạng làm cho tạng khí suy kiệt, thuộc phần bất trị.
- Tà khí vào khoảng gân xương, không còn ngoài bì phu cũng chưa vào nội tạng, thuộc phần khó trị.
  Theo sách Tố Vấn Nội kinh: chứng Tý phạm thẳng vào Tạng sẽ chết, nếu lưu niên ở gân xương thì lâu khỏi, nếu chỉ ở khoảng bì phu thì chóng khỏi.
D. Điều trị theo YHCT:

- Phép trị: Thanh nhiệt khu phong, hóa thấp.
 * Bài Bạch hổ quế chi thang gia vị gồm Thạch cao 40g, Quế chi 6g, Tri mẫu 12g, Hoàng bá 12g, Thương truật 8g, Kim ngân 20g, Tang chi 12g, Phòng kỷ 12g, Ngạnh mễ 12g, Cam thảo 8g.
Phân tích bài thuốc:
Vị thuốc
Tác dụng YHCT
Vai trò
Thạch cao
Thanh Dương minh kinh nhiệt.
Trừ nhiệt thịnh, phiền táo
Quân
Quế chi
Ôn kinh thông mạch
Thần
Tri mẫu
Thanh nhiệt lương huyết, nhuận táo
Thần
Hoàng bá
Thanh nhiệt giải độc

Thương truật
Ôn trung hóa đàm

Kim ngân
Thanh nhiệt giải độc

Tang chi
Trừ phong thấp, thông kinh lạc

Phòng kỷ
Trừ phong, hành thủy, tả thấp nhiệt

Ngạnh mễ
Ôn trung hòa vị

Cam thảo
Giải độc. Điều hòa các vị thuốc.
Sứ
 Nếu có nốt thấp hoặc sưng đỏ nhiều gia thêm Đan bì 12g, Xích thược 8g, Sinh địa 20g. Bạch hổ thang vốn là bài thuốc thanh nhiệt ở khí phận, nhiệt tà thịnh ở kinh Dương minh. Dương minh thuộc Vị, quan hệ với Tỳ chủ cơ nhục bên ngoài, nên có biểu hiện: sốt, phiền táo khát, mồ hôi ra nhiều, các khớp xương cơ nhục sưng nóng đỏ, mạch phù hoạt. Nên dùng bài thuốc này là lúc bệnh đại nhiệt, lấy mạch hồng sác hoặc phù hoạt, còn nếu có kèm theo sợ lạnh, không có mồ hôi hoặc sốt mà không khát, hoặc ra mồ hôi mà sắc mặt trắng bệch, hoặc mạch tuy hồng đại mà ấn sâu thấy hư, thì không dùng bài thuốc này, hoặc nếu dùng phải gia thêm các thuốc Dưỡng âm.

 * Bài Quế chi thược dược tri mẫu thang gồm Quế chi 8g, Ma hoàng 8g, Bạch thược 12, Phòng phong 12g, Tri mẫu 12g, Kim ngân 16g, Bạch truật 12g, Liên kiều 12g, Cam thảo 6g.
Phân tích bài thuốc:
Vị thuốc
Tác dụng YHCT
Vai trò
Quế chi
Ôn kinh thông mạch, giải biểu
Quân
Bạch thược
Liễm âm dưỡng huyết
Thần
Tri mẫu
Thanh nhiệt chỉ khát nhuận táo

Bạch truật
Kiện vị, hòa trung, táo thấp

Ma hoàng
Phát hãn, giải biểu
Quân
Phòng phong
Phát biểu, trừ phong thấp

Kim ngân hoa
Thanh nhiệt giải độc

Liên kiều
Thanh nhiệt giải độc

Cam thảo
Ôn trung hòa vị
Sứ
 Nếu các khớp sưng đau kéo dài, sốt nhẹ, nhiều mồ hôi, miệng khô lưỡi đỏ, mạch tế sác. Đó là thấp nhiệt thương âm, thì phương pháp chính là bổ âm thanh nhiệt, mà phụ là khu phong trừ thấp. Vẫn dùng các bài thuốc nêu trên, bỏ Quế chi gia thêm các vị thuốc dưỡng âm thanh nhiệt như Sinh địa, Huyền sâm, Địa cốt bì, Sa sâm, Miết giáp, Thạch hộc …

 * Dùng thuốc đắp bó ngoài khớp sưng: Ngải cứu, Dây đau xương, Lưỡi hổ. Giã nát, sao lên với dấm đắp hoặc bó ngoài khớp sưng. Hoặc Ngải cứu, Râu mèo, Gừng. Giã nát sao với rượu đắp lên khớp sưng.
 * Châm cứu: Châm các huyệt quanh hoặc lân cận khớp sưng đau. Toàn thân: châm Hợp cốc, Phong môn, Huyết hải, Túc tam lý, Đại chùy.
2. Viêm khớp dạng thấp đợt mạn tính:
 Các khớp còn sưng đau, nhưng hết đỏ, hết sốt. Các khớp dính, cứng khớp hoặc biến dạng, teo cơ.
- Phép trị: Khu phong, thanh nhiệt, trừ thấp, tán hàn.
  * Bài Độc hoạt tang ký sinh thang gồm Độc hoạt 12g, Ngưu tất 12, Phòng phong 12g, Đỗ trọng 12g, Tang ký sinh 12g, Quế chi 8g, Tế tân 8g, Thục địa 12g, Tần giao 8g, Bạch thược 12g, Đương quy 8g, Cam thảo 6g, Đảng sâm 12g, Phục linh 12g.
Phân tích bài thuốc:
Vị thuốc
Tác dụng YHCT
Vai trò
Độc hoạt
Khử phong thấp, giải biểu tán hàn
Quân
Tế tân
Tán phong hàn, hành khí khai khiếu
Quân
Thục địa
Bổ huyết, bổ thận
Thần
Đương quy
Dưỡng huyết, hoạt huyết
Thần
Xuyên khung
Hành khí hoạt huyết, trừ phong chỉ thống
Thần
Phòng phong
Phát biểu, trừ phong thấp

Tang ký sinh
Thanh nhiệt lương huyết, trừ thấp

Ngưu tất
Thanh nhiệt, trừ thấp

Tần giao
Trừ phong thấp, thi cân hoạt lạc

Bạch thược
Dưỡng huyết, chỉ thống

Đỗ trọng
Bổ Can thận, mạnh gân cốt

Quế chi
Ôn kinh thông mạch

Phụ tử
Ôn kinh, Trừ phong thấp

Cam thảo
Ôn trung, hòa vị
Sứ
- Châm cứu: Tại chỗ, châm các huyệt quanh hoặc lân cận khớp sưng đau. Toàn thân: Hợp cốc, Phong môn, Túc tam lý, Huyết hải, Đại chùy.

- Xoa bóp:
 * Tại các khớp bằng các thủ thuật ấn, day, lăn, véo các khớp và cơ quanh khớp.
 * Vận động: vừa xoa bóp vừa tập vận động khớp theo các tư thế cơ năng từng bước, động viên bệnh nhân chịu đựng và tập vận động tăng dần.
3. Viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm:
 Chưa đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán viêm khớp dạng thấp. Viêm khớp chưa quá 6 tháng. Khớp có viêm, có sưng, có đau nhức nhưng không nóng đỏ. Trên lâm sàng, nếu triệu chứng bệnh lý khớp thiên về Phong, về Hàn hay về Thấp mà có cách dùng thuốc khác nhau.
a. Thể Phong tý:
- Đau nhiều khớp, đau di chuyển chạy từ khớp này sang khớp khác. Sợ gió, rêu lưỡi trắng, mạch phù.
- Phép trị: Khu phong là chính, tán hàn trừ thấp là phụ, kèm hành khí hoạt huyết.
- Bài thuốc Phòng phong thang gia giảm gồm Phòng phong 12g, Bạch thược 12g, Khương hoạt 12g, Đương quy 12g, Tần giao 8g, Cam thảo 6g, Quế chi 8g, Ma hoàng 8g, Phục linh 8g.

Phân tích bài thuốc:
Vị thuốc
Tác dụng YHCT
Vai trò
Phòng phong
Phát biểu, trừ phong thấp
Quân
Đương quy
Bổ huyết, dưỡng huyết
Thần
Xích linh
Hành thủy, lợi thấp nhiệt
Quân
Hạnh nhân
Nhuận tràng thông tiện, ôn phế

Tần giao
Trừ phong thấp, thư cân hoạt lạc

Hoàng cầm
Thanh nhiệt giải độc

Cát căn
Giải biểu, sinh tân dịch

Khương hoạt
Phát biểu, tán phong, trục thấp
Quân
Quế chi
Ôn kinh thông mạch

Cam thảo
Ôn trung, hòa vị
Sứ
 Có bài không dùng Khương hoạt mà lại dùng Độc hoạt và Ma hoàng.
- Bài Quyên tý thang gồm Khương hoạt 20g, Phòng phong 16g, Khương hoàng 12g, Chích thảo 10g, Đương quy 16g, Xích thược 16g, Hoàng kỳ 16g.
Phân tích bài thuốc:
Vị thuốc
Tác dụng YHCT
Vai trò
Khương hoạt
Phát biểu, tán phong, trục thấp
Quân
Phòng phong
Phát biểu, trừ phong thấp
Quân
Hoàng kỳ
Bổ khí cố biểu

Đương quy
Hoạt huyết, hòa doanh
Thần
Khương hoàng
Ôn trung, tán hàn
Sứ
Chích thảo
Ôn trung, hòa vị
Sứ
Xích thược
Liễm âm, dưỡng huyết, hoạt huyết

 Khương hoạt để khu phong thấp ở trên, Phòng phong để khu phong, Khương hoàng để phá ứ thông kinh lạc phong tý, đau vai tay. Đương quy, Xích thược để dưỡng huyết, hoạt huyết, thông kinh lạc. Hoàng kỳ cố vệ, Cam thảo để điều hòa các vị thuốc. Hợp lại có tác dụng: Ích khí hòa doanh, khu phong thắng thấp, thông kinh hoạt lạc.
- Châm cứu: Tại chỗ: châm các huyệt tại khớp sưng hoặc tại huyệt lân cận. Toàn thân: Hợp cốc, Phong môn, Phong trì, Huyết hải, Túc tam lý, Cách du.

b. Thể Hàn tý:
- Đau dữ dội ở một khớp cố định, không lan, trời lạnh đau tăng, chườm nóng đỡ đau. Tay chân lạnh, sợ lạnh, rêu trắng. Mạch huyền khẩn hoặc nhu hoãn.
- Phép trị: Tán hàn là chính. Khu phong trừ thấp là phụ, hành khí hoạt huyết.
- Bài thuốc gồm Quế chi 8g, Ý dĩ 12g, Can khương 8g, Phụ tử chế 8g, Xuyên khung 8g, Thiên niên kiện 8g, Ngưu tất 8g, Uy linh tiên 8g.
Phân tích bài thuốc:
Vị thuốc
Tác dụng YHCT
Vai trò
Quế chi
Ôn kinh, thông mạch
Quân
Can khương
Ôn trung, tán hàn
Quân
Phụ tử chế
Ôn thận hỏa, khử hàn thấp, giảm đau
Thần-Sứ
Thiên niên kiện
Trừ phong thấp, mạnh gân xương
Thần
Uy linh tiên
Khử phong thấp, thông kinh lạc, giảm đau

Ý dĩ
Lợi thủy, thanh nhiệt, kiện tỳ

Thương truật
Ôn trung hóa đàm

Xuyên khung
Hoạt huyết chỉ thống

Ngưu tất
Bổ Can, ích Thận

- Châm cứu: Cứu Quan nguyên, Khí hải, Túc tam lý, Tam âm giao.
Châm bổ: Ôn châm các huyệt tại chỗ và lân cận khớp đau.

c. Thể Thấp tý:
- Các khớp nhức mỏi, đau một chỗ cố định, tê bì, đau các cơ có tính cách trì nặng xuống, co rút lại, vận động khó khăn. Miệng nhạt, rêu lưỡi trắng dính, mạch nhu hoãn.
- Phép trị: Trừ thấp là chính. Khu phong, tán hàn là phụ, hành khí hoạt huyết.
- Bài thuốc Ý dĩ nhân thang gia giảm gồm Ý dĩ 16g, Thương truật 12g, Ma hoàng 8g, Ô dược 8g, Quế chi 8g, Huỳnh kỳ 12g, Khương hoạt 8g, Cam thảo 6g, Độc hoạt 8g, Đảng sâm 12g, Phòng phong 8g, Xuyên khung 8g, Ngưu tất 8g.
Phân tích bài thuốc:
Vị thuốc
Tác dụng YHCT
Vai trò
Ý dĩ
Lợi thủy, thanh nhiệt, kiện tỳ
Quân
Ô dược
Thuận khí, ấm trung tiêu
Quân
Thương truật
Ôn trung hóa đàm

Hoàng kỳ
Bổ khí, cố biểu, tiêu độc
Thần
Ma hoàng
Phát hãn, giải biểu
Thần
Cam thảo
Ôn trung, hòa vị
Sứ
Quế chi
Ôn kinh, thông mạch
Thần
Đảng sâm
Bổ tỳ, kiện vị, ích khí

Khương hoạt
Phát biểu, tán phong, trục thấp

Xuyên khung
Hành khí hoạt huyết, trừ phong, chỉ thống

Độc hoạt
Trừ phong thấp, chỉ thống, giải biểu

Phòng phong
Phát biểu, trừ phong thấp

Ngưu tất
Bổ Can, ích Thận, cường cân, tráng cốt

- Châm cứu: Tại chỗ, châm các huyệt quanh khớp sưng đau và lân cận. Toàn thân: Túc tam lý, Tam âm giao, Tỳ du, Thái khê, Huyết hải.
d. Điều trị duy trì đề phòng viêm khớp dạng thấp tái phát:
 Bệnh do các yếu tố Phong, Hàn, Thấp nhân lúc Vệ khí hư mà xâm nhập, trong cơ thể có sẵn âm hư mà gây bệnh. Khi bệnh đã phát ra, tình trạng âm hư huyết nhiệt càng nhiều, Can Thận hư không nuôi dưỡng cân, xương được tốt là điều kiện để Phong, Hàn, Thấp xâm nhập mà gây tái phát bệnh. Nên khi bệnh tạm ổn, nên tiếp tục dùng phép Bổ can thận, lương huyết, khu phong trừ thấp.
- Bài Độc hoạt tang ký sinh thang gia Phụ tử chế (xem viêm khớp dạng thấp đợt mạn) gồm Độc hoạt 12g, Ngưu tất 12g, Phòng phong 12g, Đỗ trọng 12g, Tang ký sinh 12g, Quế chi 8g, Tế tân 8g, Thục địa 12g, Tần giao 8g, Bạch thược 12g, Đương quy 8g, Cam thảo 6g, Đảng sâm 12g, Phụ tử chế 6g, Phục linh 12g.
- Phụ phương: Bài Tam tý thang là bài Độc hoạt tang ký sinh thang bỏ vị Tang ký sinh, gia Hoàng kỳ, Tục đoạn và Gừng tươi, để dùng chữa viêm khớp dạng thấp biến chứng cứng khớp, chân tay co quắp.

                >>> Viêm Khớp Phong Thấp Tính ( Thể Tiến Triển ) <<<








About

Powered by Blogger.

Random Posts

Blog Archive

Nhãn

Labels

Labels

News

Lorem 1

BỆNH HỌC

Blogroll

Bài Đăng Phổ Biến

Blog Archive