Chào Mừng Quý Khách Đã Ghé Thăm Website Của Nhà Thuốc Đông Y MAI TRÍ TUỆ . Chúc Quý Khách có nhưng giây phút thật hữu ích !!!

Sunday, July 10, 2016

Viêm khớp phong thấp tính (viêm khớp dạng thấp tiến triển)



Theo Y học Cổ truyền:
YHCT thường mô tả viêm đa khớp dạng thấp trong phạm trù “ Tý chứng”.
3.1. Biện chứng phương trị.
 Quá trình bệnh lý kéo dài ngoan cố. Bệnh thời kỳ đầu lấy công tà là chủ; thời kỳ giữa đa phần chính khí hư dần, tà khí sẽ thịnh nên phải kiêm trị phù chính - trừ tà; thời kỳ cuối, bệnh phát lâu ngày nêú 3 tạng (can, thận, tỳ) đại hư; tà khí suy dần nên lấy phù chính là chủ (bổ ích can tỳ thận).
3.1.1. Phong hàn thấp tý.
 - Thời kỳ đầu thường đau từ 1 khớp đến nhiều khớp, đau cục bộ, không sốt, không đỏ, chỉ gặp lạnh thì đau tăng, gặp nóng thì đau giảm; thường biến đổi theo thời tiết (thiên khí biến hóa) mà đau nặng hay nhẹ. Lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng mỏng; mạch trầm huyền hoặc trầm khẩn.
- Pháp điều trị: trừ phong trục thấp - ôn kinh tán hàn.
- Phương thuốc: “ôn kinh quyên tý thang”.
Đương qui   20g  Dâm dương hoắc 15g
Quế chi  15g Cam thảo   5g
Khương bán hạ 15g  Ô tiêu xà  10g
Chế xuyên ô   10g  Địa miết trùng 10g
Phong lịch  10g Lộc hành thảo  10g.
  Nếu đau di chuyển bất định là hành tý, phải thì gia thêm: thảo cốt phong, khương hoạt, độc hoạt.
  Nếu khớp chi thể nặng, phù thũng là trước tý nặng thì phải gia thêm: thương truật, sinh ý dĩ nhân, sao bạch giới tử...
   Nếu bệnh nhân thích nóng, sợ lạnh, gặp nhiệt đỡ đau, gặp hàn đau nặng là thể hàn tý thì phải thêm: phụ tử chế, ngô công, toàn yết...
   Nếu đau khớp nặng, nhức như kim châm, như cắn gọi là thống tý thì phải gia thêm: tam thất, một dược, diên hồ sách, đào nhân, hồng hoa, kê huyết đằng để hoạt huyết - hóa ứ.
3.1.2. Tý lâu ngày hóa nhiệt thương âm.

 Các khớp sưng, nóng, đỏ, đau; cứng khớp. Mới đầu gặp lạnh đau giảm, nếu lạnh lâu không có cảm giác thích, gặp nóng lại đỡ. Miệng khô mà đắng, mất ngủ, phiền táo; lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc vàng nhờn; mạch huyền tế sác.
- Phương trị: tán hàn trừ thấp - thanh nhiệt thông lạc.
- Phương thuốc: “quế chi thược dược tri mẫu thang” gia giảm.
Quế chi   30g  Xích thược  20g
Bạch thược   20g Tri mẫu  15g
Chế xuyên ô 15g Chế thảo ô  15g
Ô tiêu xà  15g  Sinh địa  10g
Đương qui  15g Cương tàm  10g
Địa long  10g  Cam thảo  10g.
- Gia giảm: nếu nhiệt thắng thì giảm bớt:quế chi, xuyên ô, thảo ô; mà gia thêm: hổ trượng, hoàng bá để bài thủy thạch. Nếu âm hư nội nhiệt, đại tiện táo kết nặng dùng thêm sinh địa 30 - 40g.
3.1.3. Can thận hao tổn, tỳ hư tà suy.
 Chi thể cơ nhục teo nhẽo, các khớp cứng biến dạng đau nhức liên tục không giảm, đau nặng gây mất ngủ kéo dài, ngày nhẹ đêm nặng, hình thể gầy gò, mặt vàng bủng (nhợt), mệt mỏi thiểu lực, lưng gối mỏi đau, đầu choáng, tai ù, ăn kém (nạp ngại), tiện nát, khí đoản, lưỡi nhợt, rêu trắng; mạch trầm tế hơi huyền.
- Pháp điều trị: bồi nguyên - ích thể - quyên tý- thông lạc.
- Phương thuốc: “ích thận quyên tý hoàn”.
Sinh địa  20g  Thục địa  20g
Đương qui   20g Kê huyết đằng  20g
Dâm dương hoắc  20g  Ô tiêu xà  10g
Nhục thung dung 20g  Lộc hành thảo  10g
Cương tàm   10g Địa miết trùng  10g  
Thảo cốt phong 10g  Hổ trượng  10g
Chi trường noãn  10g  Chích ngô công  10g  
Khương lang   10g Chích toàn yết  10g.
- Gia giảm:

Nếu thiên về hư thìgia thêm: hoàng kỳ, đẳng sâm.
Thêm dương hư thì gia thêm: cốt toái bổ, bổ cốt chi.
Huyết hư thì gia thêm: đương qui, kê huyết đằng, kỷ tử, a giao.
Thiên âm hư thì gia thêm: thạch hộc, mạch đông, thiên môn đông, qui bản, miết giáp.
Nếu khí trệ huyết ứ thì gia thêm: đào nhân, hồng hoa.
Hiện nay, phương thuốc trên đã được phổ cập. Sau điều trị, các chỉ tiêu sinh hoá, huyết học, miễn dich đều được cải thiện rõ rệt; các khớp giảm viêm; chức năng khớp cùng với chức năng can, thận đều được cải thiện tốt.
3.2. Các phương pháp điều trị khác.
 +Điện châm các huyệt:
-Chi trên: khúc trì, thiếu hải, nội quan, hợp cốc, thần môn, ngoại quan, kiên ngung, kiên trinh, kiên tỉnh, khúc trạch, đại lăng, dương trì.
-Chi dưới: hoàn khiêu, trật biên, thừa phù, bát liêu, yêu du, bạch hoàn du, ân môn, ủy trung, tất dương quan, độc tỵ, tất nhãn, túc tam lý, dương lăng tuyền, huyền chung, giải khê, thái xung.
Thường được chỉ định chọn huyệt tương ứng với vị trí thống điểm (điểm đau - á thị huyệt), chia làm 2 nhóm luân lưu, cách ngày một lần. Nếu có đợt tiến triển cấp, có thể châm hàng ngày, thậm chí có thể 3 giờ châm một lần (thay thế cho thuốc giảm đau; từ 7 - 10 ngày là một liệu trình; 3 - 4 liệu trình là một đợt điều trị.



0 comments:

Post a Comment

Powered by Blogger.

Random Posts

News

Lorem 1

Pages