Thursday, September 1, 2016
Monday, July 11, 2016
4:38:00 AM
Unknown
bệnh học
No comments
Gặp thấy đầu tiên trong sách ‘Y Thuyết’ của Trương Quý Minh đời nhà Tống.
Là một bệnh truyền nhiễm thường gặp vào mùa đông xuân.
Trẻ nhỏ thường bị nhiều hơn.
Còn gọi là Thủy Sang, Thủy Hoa, Thủy Bào, Phu Chẩn, Thủy Hoa Nhi.
Nguyên Nhân
Các y gia xưa quan niệm không thống nhất về nguyên nhân gây bệnh. Đa số cho là do trẻ nhỏ có thấp nhiệt nội uất bên trong kèm ngoại cảm thời tà bệnh độc gây nên. Thời tà và thấp nhiệt tranh chấp nhau, lưu lại ở kinh Tỳ và Phế. Nhẹ thì làm cho Phế mất chức năng tuyên giáng biểu hiện bằng nốt đậu mầu đỏ, nhuận, mụn nước trong. Nặng hơn thì tà độc làm tổn thương Tỳ dương, bệnh độc vào sâu bên trong, thấy dấu hiệu bệnh ở phần khí, tà khí không thoát ra ngoài được, vì vậy nốt đậu đỏ tối, nước đục.
Chủ yếu do độc khí làm tổn thương phần vệ, phần khí, xâm nhập vào phần doanh gây nên bệnh.
Triệu Chứng
Phong Nhiêtp Hợp Thấp: Thiên về phần khí thuộc loại nhẹ. Hơi sốt, mũi nghẹt, chảy nước mũi, ho, một hai ngày sau đậu xuất hiện như hạt sương, mầu hồng nhuận, mọc ở lưng trước rồi mới lan ra tay chân (nhưng tay chân ít hơn), ngứa. Sau khi nổi lên, ở chính giữa có một bọng nước gọi là bào chẩn. Bào chẩn lớn dần không đều nhau, hình bầu dục, chứa một chất nước trong, không nung mủ, có vành đỏ chung quanh, kéo dài khoảng 2~3 ngày thì khô và bong ra, rêu lưỡi trắng nhạt, mạch Phù, chỉ tay mầu đỏ tím.
Điều trị: Sơ phong, thanh nhiệt, giải độc khứ thấp. Dùng bài
Ngân Kiều Tán gia giảm: Ngân hoa 10g, Liên kiều, Kinh giới, Trú diệp đều 6g, Lục đậu y 12g, Cát cánh, Thuyền thoái, Đại thanh diệp, Tử thảo, Cam thảo đều 4,5g (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).
Đại Liên Kiều Ẩm: Phòng phong, Kinh giới, Cam thảo, Đương quy đều 4g, Hoàng cầm, Xích thược, Sài hồ, Mộc thông, Chi tử đều 6g, Hoạt thạch, Liên kiều, Ngưu bàng tử đều 8g, Xa tiền 12g (Tân Biên Trung Y Học Khái Yếu).
Thấp Nhiệt Nhiều: Thiên về phần huyết, thuộc loại nặng. Sốt cao, miệng và răng khô, môi đỏ, mặt đỏ, tinh thần mệt mỏi, niêm mạc miệng có những nốt phỏng, tiểu ít, nước tiểu đỏ, thủy đậu mọc dầy, nốt thủy đậu to, mầu nước đục, chung quanh mầu đỏ sẫm, rêu lưỡi vàng khô mạch Hoạt Sác, chỉ tay mầu đỏ trệ.
Điều trị Thanh nhiệt giải độc, lương huyết thanh doanh. Dùng Thanh Ôn Bại Độc Ẩm gia giảm: Liên kiều, Hoàng cầm, Huyền sâm, Xích thược đều 10g, Tiêu sơn chi, Trúc diệp, Hoàng liên (sao), Tri mẫu đều 6g, Thạch cao (sống), Đại thanh diệp, Tử thảo, Ngân hoa đều 12g.
Thuốc Rửa
Khổ sâm, Mang tiêu đều 30g, Phù bình 15g. Nấu lấy nước, rửa (Bì Phu Bệnh Trung Y Chẩn Liệu Học).
Một Số Bài Thuốc Kinh Nghiệm
Thanh Nhiệt Giải Độc Thang III (Triết Giang Trung Y Tạp Chí 1987, 8): Kim ngân hoa, Liên kiều đều 6~9g, Tử thảo, Mộc thông đều 4,5~6g, Hoàng liên, Cam thảo đều 3~4,5g. Sắc uống.
Tác dụng: Thanh nhiệt, giải độc, khứ thấp. Trị thủy đậu.
Đã trị 60 ca. Trong đó nhẹ và vừa có 13 ca, 47 ca nặng. Đều khỏi hẳn. Sau nửa ngày thì hạ sốt, có khi kéo dài đến 2 ngày mới hạ sốt. Trung bình 1 ngày là hạ sốt.. Thời gian nốt đậu đóng vẩy: đa số 2~3 ngày, một số ít 4 ngày.
Ngân Thạch Thang (Hắc Long Giang Trung Y Dược 1990, 1): Ngân hoa, Thạch cao (nấu trước) đều 30g, Huyền sâm, Tử thảo, Trạch tả đều 15g, Bạc hà 9g (cho vào sau), Kinh giới 6g. Sắc uống.
Tác dụng: Thanh nhiệt giải độc, sơ phong, lương huyết, khứ thấp. Trị thủy đậu
Đã trị 116 ca. Toàn bộ đều khỏi. Uống 2~5 thang. Thường sau 1 thang, đều hạ sốt.
U xơ tử cung sớm đã được thấy trong Đông y trong các chứng trưng hà, tích tụ, rong kinh, rong huyết, kinh nguyệt tiên kỳ, kinh nguyệt hậu kỳ…bệnh được chữa theo các thể tương ứng:
Khí Trệ Huyết Ứ
Triệu chứng: Hành kinh không sướng (thông) hoặc băng lậu ra máu, có kèm theo cục máu tím đen, bụng dưới trướng đau, sợ sờ nắn, sau khi máu cục ra thì giảm đau, trước khi hành kinh bầu vú căng đau, sắc mặt mờ tối, chất lưỡi tím đen, hoặc ven lưỡi có điểm ban ứ, mạch trầm huyền hoặc huyền sáp.
Pháp: Hoạt huyết tán kết, phá ứ liêu trưng.
Phương: Tử cung tiêu lựu hoàn
Đan bì, Xích thược, Nhũ hương, Hải tảo, Côn bố, Hạ khô thảo, Tam lăng Nga truật, Đương quy, Diên hồ sách, Hương phụ.
Thuốc chế thành viên hoàn, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 4 viên uống với nước. Ba tháng là 1 liệu trình.
Hoặc
U xơ tử cung thể Khí Trệ Huyết Ứ
Đào nhân 15 Thuỷ điệt 15 Chế đại hoàng 12
Sinh mẫu lệ 12 Miết giáp 12 Quy bản 12 Miêu trảo thảo 20
Hạ khô thảo 20 Côn bố 20 Hải tảo 20 Tam lăng 12
Ô dược 10 Hương phụ 10
Phương pháp chế dùng: Mỗi ngày 1 tễ, sắc nước chia 2 lần. Sau khi sạch kinh bắt đầu uống thuốc, thời gian hành kinh thì dừng thuốc.
Khử ứ tiêu trưng thang
Vương bất lưu hành 12 Nga truật 12 Sinh quán chúng 15
Đương quy 10 Đào nhân 10 Tam lăng 10 Hương phụ 10
Hạ khô thảo 15 Sinh mẫu lệ 20 Côn bố 30 Hải tảo 20
Xuyên tục đoạn 15
Khí Hư Huyết Ứ
Triệu chứng: Thời gian trước kỳ hành kinh lượng nhiều, hoặc băng hoặc lậu sắc hồng nhạt chất lỏng, sắc mặt vàng úa, thần mệt mỏi không có sức, đầu choáng tim thổn thức, mặt phù chi sưng, phân lỏng nát, bụng dưới căng xệ xuống, chất lưỡi nhạt hoặc sắc hơi tím rõ rệt, mạch trầm tế hoặc nhu tế.
Pháp: Ích khí hoạt huyết, tiêu những tán kết.
Phương: Cung trưng thang
U xơ tử cung thể Khí Hư Huyết Ứ Đương quy Bào sơn giáp Đào nhân
Nga truật 15 Hương phụ 15 Tục đoạn 15 Hạ khô thảo 15
Hoài Ngưu tất 15 Vương bất lưu hành 9 Tam lăng 9 Côn bố 15
Dĩ nhân 30 Đảng sâm 10 Bạch truật 12 Phục linh 12
Âm Hư Huyết Nhiệt
Triệu chứng: Lượng kinh nhiều mà không dứt, kèm có cục máu tím đen, số ngày kinh kéo dài, bụng dưới có bọc khối rắn cứng, đẩy vào đó không di chuyển, đầu choáng, tâm hoảng hốt, ngũ tâm phiền nhiệt, miệng khô lưỡi táo, lưỡi hồng xám, ven lưỡi có điểm ứ, mạch tế sáp.
Pháp: Tư âm thanh nhiệt, hoạt huyết hoá ứ.
Phương: Quế cầm tiêu lựu hoàn
U xơ tử cung thể Âm Hư Huyết Nhiệt Quế chi 12 Miết giáp 12 Xích thược 12
Phục linh 15 Đan bì 10 Đào nhân 10 Xuyên sơn giáp 10
Hoặc
Cầm liên tứ vật thang
Hoàng cầm, Hoàng liên, Đương quy, Thục địa, Xuyên khung, Bạch thược dùng với liều lượng thích hợp.
Thận Dương Bất Túc
Triệu chứng: Thời gian trước kỳ hành kinh lượng nhiều, hoặc băng hoặc lậu sắc hồng nhạt chất lỏng, sắc mặt nhợt, thần mệt mỏi không có sức, hay tự ra mồ hôi, phân lỏng nát, chân tay thường lạnh, lưng gối mỏi, bụng dưới căng xệ xuống, chất lưỡi nhạt, mạch trầm nhược.
Pháp: hoạt huyết hóa ứ, ôn thận trợ dương
Phương: tiêu tích thang gia giảm
U xơ tử cung thể Thận Dương Bất Túc quế chi 6 thỏ ty tử 15 cẩu tích 15
dâm dương hoắc 15 ba kích 15 đương quy 12 hương phụ 6
tiểu hồi 9 tam lăng 12 nga truật 12 vương bất lưu hành 12
U xơ tử cung là gì?
Từ góc nhìn của : - >>>Y HỌC CỔ TRUYỀN <<<
- Y HỌC HIỆN ĐẠI
Cứ khoảng 4 – 5 phụ nữ trong độ tuổi trên 35 lại có một người bị u xơ tử cung. Đây là một loại khối u không phải ung thư của tử cung xuất hiện trong thời kỳ sinh đẻ của người phụ nữ. Vị trí của u xơ có thể xuất hiện bên trong hoặc bên ngoài nội mạc tử cung, cũng như bên trong hoặc bên ngoài lớp cơ của thành tử cung. Thường u xơ bắt nguồn từ chỉ một tế bào cơ trơn rồi tiếp tục phát triển lên. Tên gọi đầy đủ là U xơ cơ tử cung (gọi tắt là u xơ tử cung).
Một người có thể có một hoặc nhiều u xơ cùng lúc trên tử cung. Kích thước của nó có thể thay đổi từ cỡ hạt đậu đến quả bưởi. Đa số u xơ có kích thước nhỏ, nhưng đôi khi khối u phát triển đến kích thước không ngờ. Khối u xơ có thể phát triển chậm chạp, nhưng đôi khi lại rất nhanh. Trong suốt thời gian phát triển, u xơ gần như vô hại. Nó không làm tăng nguy cơ ung thư tử cung và hầu hết không tiến triển thành ung thư.
Nếu khối u gây đau chói đột ngột vùng chậu thì cần phải được điều trị cấp cứu. Biến chứng này hiếm xảy ra. Nói chung u xơ tử cung ít gây khó chịu và hiếm khi cần phải điều trị. Người ta có thể sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật để làm giảm kích thước hoặc cắt bỏ hoàn toàn khối u.
Dấu hiệu và triệu chứng
Có thể bạn không cảm thấy bất thường gì xảy ra trong cơ thể nếu bạn bị u xơ tử cung. Đến hơn 50% phụ nữ bị u xơ không biểu hiện triệu chứng. Hầu hết các u xơ tử cung được phát hiện tình cờ khi thăm khám vùng chậu định kỳ hoặc theo dõi trước khi sanh. Những dấu hiệu thường gặp nhất của u xơ tử cung là:
• Chảy máu kinh bất thường - nặng hơn hoặc kéo dài hơn.
• Đau bụng hoặc đau lưng vùng thấp.
• Giao hợp đau.
• Triệu chứng thiếu máu (do mất nhiều máu kinh).
• Tiểu khó hoặc tiểu lắt nhắt do khối u xơ chèn ép lên bàng quang.
• Tăng áp lực vùng chậu.
• Vô sinh hoặc sẩy thai. • Táo bón.
Nguyên nhân
Hiện nay nguyên nhân còn chưa rõ ràng. Yếu tố di truyền có lẽ đóng một vai trò nào đó trong bệnh này. Bạn có nhiều khả năng bị u xơ tử cung hơn nếu như trong gia đình bạn cũng có người nữ từng bị u xơ.
Sự phát triển của u xơ dường như cũng chịu ảnh hưởng của yếu tố hormone, nhất là estrogen. U xơ có xu hướng phát triển suốt trong giai đoạn sinh đẻ của người phụ nữ và phát triển rất nhanh trong thai kỳ khi nồng độ estrogen tăng cao nhất. Sau mãn kinh khối u xơ thường thu nhỏ lại do nồng độ estrogen suy giảm. Một số hormone khác, như progesterone, cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của u xơ.
Yếu tố nguy cơ
Chỉ có một vài yếu tố nguy cơ của u xơ đã được biết, ví dụ như độ tuổi sinh đẻ. Những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn khác vẫn còn chưa được biết rõ. Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ béo phì có nguy cơ bị u xơ cao hơn, ngược lại một số khác lại không cho thấy có mối liên hệ nào. Vấn đề cũng tương tự như vậy khi một số nghiên cứu chứng tỏ phụ nữ sử dụng thuốc ngừa thai uống và nữ vận động viên điền kinh ít có nguy cơ bị u xơ, trong khi có những nghiên cứu phản bác điều này.
Khi nào bạn cần lời khuyên của Bác sĩ?
Bạn cần đến Bác sĩ khi xuất hiện những cơn đau vùng chậu dai dẳng không dứt, cơ đau có thời gian hoặc cường độ quá mức, ra máu âm đạo bất thường giữa các kỳ kinh nguyệt, giao hợp đau, tiểu khó hoặc lắt nhắt, thường xuyên táo bón,...Đáng lưu ý nhất là đột ngột ra máu âm đạo nhiều hoặc đau chói vùng chậu.
Tầm soát và chẩn đoán
Nhằm phát hiện khối u xơ, các bác sĩ sẽ khám bụng, khám vùng chậu và thăm âm đạo. Trong nhiều trường hợp, bác sĩ sẽ đề nghị bạn làm siêu âm – một phương tiện thăm khám không gây đau, sử dụng sóng âm thanh cao tần để chuyển hình ảnh tử cung của bạn lên màn hình. Các hình ảnh này sẽ rất hữu ích cho chẩn đoán, nhất là để theo dõi sự phát triển của khối u.
Soi buồng tử cung cũng có thể được sử dụng. Đó là một thủ thuật không xâm nhập, người ta dùng một đầu camera nhỏ, phát sáng đưa vào trong buồng tử cung thông qua ngõ âm đạo và cổ tử cung. Phương pháp này cho phép bác sĩ nhìn thấy được lớp nội mạc buồng tử cung và có thể lấy một mẫu mô nhỏ nếu cần thiết (để làm tế bào học).
Biến chứng
U xơ tử cung thường không nguy hiểm, nhưng đôi khi có thể gây khó chịu, hoặc có thể có biến chứng như thiếu máu (do mất nhiều máu hơn khi hành kinh), khó thụ thai vì khối u có thể làm biến dạng tử cung và lớp nội mạc tử cung, gây bất lợi cho sự làm tổ của trứng. Đôi khi khối u có thể gây cản trở hoặc tắc nghẽn ống sanh, nhất là các u nằm ở eo tử cung, có thể gây khó khăn cho cuộc sanh. Tuy nhiên, thường u xơ tử cung mềm đi khi có thai và ít khi gây trở ngại cho thai kỳ.
Trong một số hiếm trường hợp, khối u nằm dưới thanh mạc, ngoài lớp cơ tử cung và có cuống, nó thể bị xoắn vặn gây nên cơn đau chói nặng nề và đột ngột ở vùng bụng dưới của bạn. Trường hợp này cần phải được phẫu thuật gấp.
Điều trị u xơ tử cung
Nếu khối u xơ không có triệu chứng gì, bạn chỉ cần theo dõi thường xuyên, thăm khám và siêu âm theo dõi kích thước của nó. Nếu u xơ có triệu chứng, bác sĩ của bạn sẽ áp dụng một trong những biện pháp sau đây:
Dùng thuốc
Thuốc ngừa thai uống hoặc các hormone sinh dục giúp kiểm soát triệu chứng cường kinh. Tuy nhiên các thuốc này không làm thay đổi kích thước khối u. Các thuốc đồng vận với hormone GnRH (Hormone phóng thích hormone hướng sinh dục) (như Lupron, Viadur, …) có thể làm giảm kích thước khối u xơ do hạ thấp nồng độ estrogen trong cơ thể bạn. Điều trị này không thể dùng lâu dài, thường áp dụng để chuẩn bị cho phẫu thuật. Không may là các chất đồng vận của GnRH gây ra nhiều triệu chứng của mãn kinh như cơn nóng bừng, tính khí nóng nảy, nhức đầu, khô âm đạo và mất xương. Nếu sử dụng các thuốc này, bác sĩ thường phải dùng kèm thêm các thuốc điều trị các triệu chứng mãn kinh nói trên. Khối u xơ thường tái phát sau khi ngưng thuốc. Hầu hết các thuốc điều trị u xơ được sử dụng như một liệu pháp tạm thời trong mãn kinh sớm hoặc chuẩn bị cho phẫu thuật.
Phẫu thuật u xơ tử cung
Đôi khi cần phải phẫu thuật để cắt bỏ khối u. Một phương pháp thường dùng là thủ thuật cắt bỏ u cơ, trong thủ thuật này người ta chỉ cắt bỏ khối u và giữ nguyên tử cung. Đây là một biện pháp quan trọng nếu bạn còn muốn tiếp tục có con. Một phẫu thuật khác là cắt tử cung. Biện pháp này điều trị u xơ hữu hiệu nhất, nhưng chỉ nên thực hiện nếu u xơ gây triệu chứng. Phẫu thuật cắt tử cung ít biến chứng hơn phẫu thuật cắt khối u xơ và đó là giải pháp điều trị tận gốc. Nếu cắt khối u xơ, tỷ lệ tái phát khoảng 10%.
Trong 10 năm gần đây, thế giới đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của những kỹ thuật ít xâm nhập như cắt u xơ qua soi buồng tử cung hoặc nội soi ổ bụng. Người ta dùng một camera rất nhỏ gắn vào đầu một que nhỏ dài với nguồn sáng lạnh đưa vào bên trong buồng tử cung (qua âm đạo và cổ tử cung) hoặc trong ổ bụng (qua một đường rạch nhỏ vùng giữa thành bụng), hình ảnh ghi được từ camera được truyền theo dây cáp quang ra một màn hình theo dõi bên ngoài. Với thủ thuật này, sự lành vết thương hết sức mau chóng và để lại sẹo nhỏ. Tuy nhiên hiện nay chúng chỉ được áp dụng cho các u xơ nhỏ hoặc các u xơ mới hình thành nhưng có tốc độ phát triển nhanh. Nói chung phẫu thuật qua nội soi hiếm khi cần vì thường các u xơ nhỏ không cần điều trị.
Gây tắc động mạch nuôi khối u
Phương pháp không phẫu thuật và rất ít xâm nhập này có thể là một lựa chọn tốt cho những bệnh nhân không muốn phẫu thuật. Thủ thuật này làm nhỏ khối u bằng cách cắt hoặc gây tắc động mạch cấp máu nuôi dưỡng chúng. Bác sĩ - dưới sự hướng dẫn của X quang, luồn một ống nhỏ (catheter) qua động mạch chi dưới vào động mạch tử cung, rồi vào nhánh động mạch nuôi khối u. Khi catheter đã định vị trí chính xác, người ta đưa vào một mảnh plastic hoặc gelatin nhỏ gây tắc hoàn toàn dòng máu vào khối u. Sau một thời gian, u xơ không được cấp máu sẽ thu nhỏ kích thước hoặc biến mất hoàn toàn.
Đây là một phương pháp tương đối mới mẻ trong điều trị u xơ tử cung, đặc biệt được dùng nhiều trong các u xơ gây chảy máu nhiều sau sanh. 85% phụ nữ được điều trị theo phương pháp này hoàn toàn không còn các triệu chứng đau hoặc các triệu chứng do khối u. thường bệnh nhân phải nằm lại trong bệnh viện để theo dõi một ngày, và hầu hết các bệnh nhân áp dụng biện pháp này đều có triệu chứng co thắt cơ bụng trong vài giờ đến vài ngày sau thủ thuật. Tỷ lệ sang chấn tử cung cũng như nhiễm trùng rất thấp. Các nghiên cứu về khả năng có thai trở lại sau thủ thuật hiện chưa hoàn thành. Tỷ lệ tái phát u xơ cũng chưa được biết rõ, và những ảnh hưởng lâu dài của thủ thuật còn phải được nghiên cứu thêm.
Phòng ngừa.
Mặc dù người ta đang đào sâu nghiên cứu về nguyên nhân bệnh sinh của u xơ nhưng hiện vẫn còn nhiều điều chưa rõ ràng trong vấn đề này. Chính vì vậy mà việc phòng ngừa bệnh còn nhiều trở ngại và chưa có biện pháp nào thực sự hiệu quả. Một điều may mắn là hầu hết các u xơ tử cung đều không đòi hỏi phải điều trị.
3:57:00 AM
Unknown
bệnh học
No comments
Táo bón là một chứng thường gặp trong bệnh đường tiêu hóa, trong đó phân nằm lâu trong đại tràng không được tống ra ngoài.
Một người bình thường có thể đi đại tiện 2 lần/ngày, hoặc 2 – 3 lần/tuần, số lần đi phụ thuộc vào thói quen, hoàn cảnh từng người, khối lượng phân mỗi ngày khoảng trên 200g. Người bị táo bón đi đại tiện < 2 lần/tuần, phân cứng và ít (<100g), phải ngồi lâu, rặn nhiều, nhiều khi có cảm giác đại tiện không hết phân cho nên khó chịu và có cảm giác muốn đi ngoài.
Táo bón có thể có nguyên nhân tổn thương thực thể và táo bón có nguồn gốc chức năng. Táo bón mạn tính thường có nguồn gốc chức năng như: ăn uống , thói quen về sinh hoạt, rối loạn cơ năng đại tràng, rối loạn chuyển hóa, do thuốc, trong bệnh cảnh của các bệnh mạn tính khác…
Trong Y học cổ truyền táo bón mạn tính được gọi tên là tiện bí để chỉ tình trạng đại tiện bí kết không thông, người bệnh khi đi ngoài phải ngồi lâu hoặc muốn đi ngoài nhưng khi đi ngoài lại rất khó khăn, phát sinh ra Tiện bí do rối loạn chức năng vận chuyển của đại trường bởi nhiều nguyên nhân gây ra.
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh theo Y học cổ truyền của Táo bón
Do vị trường táo kết:
Do bản thân cơ địa người bệnh phần dương mạnh, hay trong quá trình sinh hoạt có thói quen uống nhiều rượu, ăn nhiều thức ăn gia vị cay nóng.
Do sau khi mắc các bệnh ôn nhiệt (các bệnh nhiễm trùng có sốt thì tàn dư của nhiệt còn lại gây tổn thương phần âm dịch của cơ thể).
Những nguyên nhân này dẫn đến đại trường táo nhiệt, do tân dịch bị tiêu hao không đưa được xuống dưới, làm phân khô kết lại và khó bài tiết ra ngoài
Do khí trệ: Thường tinh thần bị căng thẳng, suy nghĩ nhiều hoặc ngồi lâu, ít vận động, dẫn đến khí ngưng, làm cho công năng vận chuyển của trường vị bị rối loạn, chất bã bị đình ngưng ở bên trong gây ra táo bón.
Do khí huyết bị tổn thương: Thường hay gặp ở những người lao lực quá độ, sau khi mắc bệnh kéo dài, hay phụ nữ sau đẻ, người cao tuổi… làm khí huyết bị tiêu hao. Khí hư làm nhu động vận chuyển của đại trường bị suy giảm. Huyết hư làm tân dịch bị suy cạn không thể tư nhuận được đại tràng đều khiến cho đại tiện bài tiết khó khăn.
Phân loại các thể lâm sàng theo Y học cổ truyền
Táo bón Thể âm hư huyết nhiệt (nhiệt bí)
Triệu chứng: Táo bón lâu ngày, miệng khô, họng khô, bứt rứt khó chịu (tâm phiền), khát nước, rêu lưỡi vàng khô, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác hoặc hoạt sác.
Pháp điều trị: tùy theo từng trường hợp cụ thể mà chọn pháp:
Lương huyết nhuận táo
Dưỡng tâm nhuận táo
Thanh nhiệt nhuận táo
Bài thuốc cổ phương:
Lương huyết nhuận táo: dùng bài Ma tử nhân hoàn
Ma tử nhân 100g Hạnh nhân 50g
Bạch thược 50g Đại hoàng 40g
Hậu phác 40g Chỉ thực 40g
Tất cả tán bột làm hoàn, mỗi ngày uống 20 – 30 g
Thanh nhiệt nhuận táo dùng bài: Lương cách tán
Đại hoàng 20g Mang tiêu 20g
Cam thảo 20g Chi tử 10g
Hoàng cầm 10g Hà diệp 10g
Tất cả tán bột, mỗi lần uống từ 12 – 24g. Uống 1 – 2 lần/ngày
Dưỡng âm nhuận táo thì dùng bài: Điều vị thừa khí thang gia vị
Đại hoàng 16g Sinh địa 12g
Mang tiêu 12g Thạch hộc 16g
Cam thảo 6g
Tất cả làm thang, sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần. Khi bệnh nhân đi đại tiện bình thường rồi thì dừng.
Táo bón Thể huyết hư
Triệu chứng: đại tiện táo lâu ngày, hoa mắt, chóng mặt, vàng đầu, tâm phiền, sắc mặt nhợt nhạt, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế.
Pháp điều trị: Dưỡng huyết nhuận táo.
Bài thuốc: Hoạt trường hoàn
Đương quy 12g Sinh địa 12g
Ma nhân 12g Đào nhân 8g
Chỉ xác 8g
Tất cả tán bột làm hoàn, mỗi ngày uống 10 – 20g
Nếu có hiện tượng âm hư thì phải tư âm tăng dịch, gia: Huyền sâm, Mạch đông.
Táo bón Thể khí hư
Triệu chứng: Đại tiện táo kéo dài, nhưng phân không quá khô kết, khi đi đại tiện phải cố rặn, sau khi đi đại tiện người mệt lả, thậm chí vã mồ hôi, khó thở. Sắc mặt trắng, tình thần mệt mỏi, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi mỏng, mạch tế.
Pháp điều trị: Ích khí nhuận tràng
Bài thuốc: Hoàng kỳ thang
Hoàng kỳ 20g Trần bì 10g
Ma nhân 10g Bạch mi (mật ong) 3 thìa
Để tăng cường hiệu quả ích khí, kiện tỳ, thông tiện gia thêm: Đẳng sâm, Bạch truật, Hoài sơn, Cam thảo…
Tất cả làm thang sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần
Nếu khí hư hạ hãm có thể sử dụng bài Bổ trung ích khí thang gia vị
Chứng táo bón trong Y học cổ truyền ít sử dụng châm cứu. Nếu có châm thì chỉ đóng vai trò hỗ trợ… Một số huyệt đạo có thể tham khảo để tùy trường hợp cụ thể phối hợp thuốc.
Phác đồ huyệt chung: Châm bổ Thiên khu, Trung quản, Tỳ du, Đại trường du, Túc tam lý, Chi câu.
Nếu dương khí kém thì cứu các huyệt trên.
Nếu âm hư huyết nhiệt thì châm bổ thêm: Tam âm giao, Thái khê.
Nếu thiếu máu thêm huyệt Cách du, Cao hoang.
Trong điều trị táo bón mạn tính, để được ổn định lâu dài, ngoài xây dựng một thói quen sinh hoạt khoa học, hợp lý, có thể tập luyện thêm phương pháp dưỡng sinh, khí công.
Subscribe to:
Comments (Atom)


